Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 34/2025/HS-ST

Ngày: 25-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Ngọc Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hoàng Thanh Hương
  2. Ông Phạm Quốc Thái

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hải – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Minh Vương – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Hữu P, sinh năm 1982, tại An Giang; Thường trú: Ấp Thị 1, xã H, huyện C, tỉnh An Giang; nơi ở: G B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T và bà Trần Thị N; hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ con; tiền án: ngày 18/9/2017, bị Tòa án nhân dân Thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 208/2017/HSST ngày 18/9/2017. Ngày 13/6/2018 đã chấp hành xong hình phạt tù, chưa đóng án phí hình sự sơ thẩm; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 10/11/2011 bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 189/2011/HS-ST ngày 10/11/2011. Ngày 25/01/2012 đã chấp hành xong hình phạt tù; Ngày 04/02/2016 bị Tòa án nhân dân Thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 08 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 05/2016/HSST ngày 04/02/2016. Ngày 09/8/2016 đã chấp hành xong hình phạt tù; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/10/2024 – Có mặt

- Bị hại: Ông Nguyễn Trường D, sinh năm 2005 – Vắng mặt

Địa chỉ: G B, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Đỗ Văn T1, sinh năm 1993
  2. Địa chỉ: 3 N, ấp H, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. – Vắng mặt

  3. Ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1977 – Vắng mặt
  4. Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có việc làm, cần tiền tiêu xài cá nhân nên Trần Hữu P đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 14 giờ ngày 17/10/2024, P đi bộ đến trước cửa hàng M, địa chỉ: Tầng trệt chung cư O, số F Â, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện có nhiều xe máy dựng phía trước cửa hàng, không có người trông coi, bảo quản. P lén lút tiếp cận 01 xe máy hiệu Honda Wave Alpha, màu bạc đen, biển số 63X5-7333 chủ sở hữu là ông Nguyễn Ngọc C, P dùng chìa khóa của mình có sẵn thử mở khóa xe này thì phát hiện ổ khóa đã mòn, chìa khóa của P sau khi cắm vào đã mở được ổ khóa khiến xe hoạt động. P sau đó dắt lùi xe ra, ngồi lên xe, nổ máy, rồi điều khiển xe tẩu thoát về hướng đường  - T. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, P đến cửa hàng cầm đồ X, tại số C N, xã B, huyện H gặp anh Lê Quốc Anh D1 (được anh Đỗ Văn T1 chủ cửa tiệm cầm đồ nhờ trông coi cửa tiệm), P có nói xe máy biển số 63X5–7333 là xe máy của P, xe bị mất giấy tờ, do cần tiền gấp nên P đề nghị anh D1 cho cầm cố xe với giá 3.200.000 đồng, anh D1 sau khi hỏi ý kiến anh T1 đã đồng ý và yêu cầu P đưa ra căn cước công dân để làm hợp đồng. P đưa ra 01 căn cước công dân tên Trần Hữu P (bản photo) cho nhân viên cầm đồ và P ký vào bản cam kết xe máy không phải là tài sản trộm cắp, phí cầm đồ là 200.000 đồng/tháng. P dùng số tiền trên để tiêu xài cá nhân hết. Đến 23 giờ 00 ngày 18/10/2024, khi P đang ở tại phòng trọ địa chỉ số G B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Cơ quan Công an kiểm tra hành chính, mời về trụ sở Công an phường T để làm rõ vụ việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Trần Hữu P đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản do bản thân thực hiện nêu trên.

Kết luận định giá tài sản số 2724/KL-HĐĐGTS ngày 08/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân quận T kết luận (tại thời điểm ngày 17/10/2024): 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu Honda loại Wave Alpha, màu bạc đen, biển kiểm soát 63X5-7333, số khung: HC09057Y443852, đã qua sử dụng trị giá 8.500.000 đồng (Bút lục: 38). Theo quyết giám định số 6180/KL-KTHS của Phòng K Công an Thành phố H ngày 12/11/2024 kết luận 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 63X5–7333, số khung nguyên thủy: HC09057Y443852 không bị đục lại số, số máy nguyên thủy: HC09E-5542011 không bị đục lại số (Bút lục 32).

Vật chứng thu giữ:

  • 01 xe máy hiệu Honda Wave Alpha, màu bạc đen, biển số: 63X5-7333, Số khung: 09057Y443852, số máy: C09E-5542011 (Đã qua sử dụng), do ông Nguyễn Ngọc C đứng tên chủ sở hữu, khoảng tháng 8/2023, ông C giao chiếc xe cho con là Nguyễn Trường D sử dụng làm phương tiện đi lại để thuận tiện cho việc học Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã trả lại cho cho ông Nguyễn Ngọc C.
  • 01 Điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số Sêri 1: 354493095430855, số Sêri 2: 354495090430855; Là điện thoại của P, dùng để liên lạc cá nhân.
  • 01 áo sơ mi tay ngắn màu xám, có sọc, hiệu “COMME CA ISM"; 01 quần jeans ống dài màu đen xám; 01 đôi dép màu đen hiệu “GIA VI".

Hiện đang nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số 295/PNK ngày 06/12/2024 của Cơ quan Thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp Công an quận Tân Phú (Bút lục 30).

Về phần dân sự: Anh Đỗ Văn T1 không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Bản cáo trạng số: 53/CT-VKSQTP ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Hữu P tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội và đề nghị: Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Hữu P từ 02 năm đến 03 năm tù.

Về phần vật chứng vụ án đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Hữu P thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đánh giá hành vi, quyết định tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Đánh giá hành vi của bị cáo:

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở để xác định: Ngày 17/10/2024, tại trước cửa hàng M, địa chỉ: Tầng trệt chung cư O, số F Â, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Trần Hữu P đã lén lút chiếm đoạt 01 xe máy hiệu Honda Wave Alpha, màu bạc đen, biển số: 63X5-7333 của ông Nguyễn Ngọc C trị giá 8.500.000 đồng thì bị bắt. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Trần Hữu P phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm; xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của người khác, được pháp luật bảo vệ, đồng thời ảnh hưởng đến trật tự, trị an, an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người đã thành niên, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi, muốn có tiền tiêu xài một cách dễ dàng mà không muốn bỏ công sức lao động nên bị cáo đã cố ý phạm tội, chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc để giáo dục bị cáo nói riêng và để đảm bảo việc đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung cho toàn xã hội.

Đối với anh Đỗ Văn T1 và Lê Quốc Anh D1 khi nhận cầm cố xe máy hiệu Honda Wave Alpha, màu bạc đen, biển số 63X5-7333 không biết tài sản do P trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T không xử lý anh T1 và anh D1 về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ. Do đó Hội đồng xét xử không xét.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo P đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội. Lần phạm tội này của bị cáo là thuộc trường hợp tái phạm nên cần áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo khi lượng hình.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo P tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Do đó, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Do bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác do đó Hội đồng xét xử không xét.

Do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn T1 không còn yêu cầu bồi thường gì do đó Hội đồng xét xử không xét.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • 01 xe máy hiệu Honda Wave Alpha, màu bạc đen, biển số: 63X5-7333, Số khung: 09057Y443852, số máy: C09E-5542011 (Đã qua sử dụng), do ông Nguyễn Ngọc C đứng tên chủ sở hữu, khoảng tháng 8/2023, ông C giao chiếc xe cho con là Nguyễn Trường D sử dụng làm phương tiện đi lại để thuận tiện cho việc học Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã trả lại cho cho ông Nguyễn Ngọc C. Do đó Hội đồng xét xử không xét.
  • 01 Điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số Sêri 1: 354493095430855, số Sêri 2: 354495090430855; Là điện thoại của P, dùng để liên lạc cá nhân. Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng không liên quan đến hành vi phạm tội do đó cần trả lại cho bị cáo.
  • 01 áo sơ mi tay ngắn màu xám, có sọc, hiệu “COMME CA ISM"; 01 quần jeans ống dài màu đen xám; 01 đôi dép màu đen hiệu “GIA VI". Hội đồng xét xử xét thấy đây là vật chứng không còn giá trị sử dụng, bị cáo không có yêu cầu nhận lại do đó cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ Điều 173 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Trần Hữu P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[2] Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Trần Hữu P 02 (hai) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 19/10/2024

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

[4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Trả cho bị cáo: 01 Điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, số Sêri 1: 354493095430855, số Sêri 2: 354495090430855.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 áo sơ mi tay ngắn màu xám, có sọc, hiệu “COMME CA ISM"; 01 quần jeans ống dài màu đen xám; 01 đôi dép màu đen hiệu “GIA VI".

(Tất cả theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 295/PNK ngày 06/12/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T)

[5] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 13/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

[6] Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh (1);
  • - VKSND Tp. Hồ Chí Minh(1);
  • - VKSND quận Tân Phú (3);
  • - THADS quận Tân Phú (1);
  • - THAHS quận Tân Phú (2);
  • - Phòng PC53 CA Tp. HCM (1);
  • - Nhà tạm giữ (2);
  • - Bị cáo (1);
  • - Bị hại (1);
  • - NCQLNVLQ (1)
  • - Sở Tư Pháp (1);
  • - Lưu: VT (1); hồ sơ vụ án (1). (18)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tô Thị Ngọc Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 34/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger