Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/DS-ST

Ngày: 21/02/2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khương Minh Trí;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đặng Minh Lý;
  2. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Phương Huỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thanh T – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 23 tháng 01 năm 2025 và 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 506/20/TLST-DS28/6/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 348/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Kim Đ, sinh năm 1965; địa chỉ thường trú: 166 đường T, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: Căn C, chung cư G, đường H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lê Hoàng N, sinh năm 1990; địa chỉ liên hệ: Căn C, chung cư G, đường H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (Theo giấy Uỷ quyền ngày 21/5/2024 – Số công chứng 005836, quyển số 05-2024 TP/CC-SCC/HĐGD); có mặt.

- Bị đơn: Ông Triệu Quốc N1, sinh năm 1958; địa chỉ liên hệ: 2 tổ C, khu C, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Triệu Quốc D, sinh năm 1996; địa chỉ cư trú: 2 tổ C, khu C, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (Theo giấy Uỷ quyền ngày 01/8/2024 – Số công chứng 1801, quyển số 08/2024TP/CC – SCC/HĐGD); có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Triệu Quốc D, sinh năm 1996; địa chỉ cư trú: 2 tổ C, khu C, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
  • + Bà Diệp Ngọc B, sinh năm 1952; địa chỉ liên hệ: 2 tổ C, khu C, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; đã chết.

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Diệp Ngọc B:

  • + Ông Triệu Quốc N1, sinh năm 1958; địa chỉ liên hệ: 2 tổ C, khu C, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
  • + Ông Triệu Quốc D, sinh năm 1996; địa chỉ cư trú: 2 tổ C, khu C, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 27/5/2024, Đơn sửa đổi nội dung đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Do có nhu cầu nhận chuyển nhượng nhà, đất tại phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương để ở, thông qua người giới thiệu, bà Đ biết ông N1 đang rao bán căn nhà gắn liền quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 51, tờ bản đồ số 60 - ĐK, tọa lạc tại số G đường B, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Sau đó, bà Đ và ông N1 gặp nhau thương lượng và thỏa thuận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên. Ông N1 thông báo cho bà Đ biết thửa đất nêu trên thuộc quy hoạch đất ở, đủ điều kiện chuyển thêm mục đích sử dụng đất để xây nhà mới (vì căn nhà trên đất đã xây dựng lâu, rất cũ). Ông N1 cũng cam kết là đất này không bị vướng quy hoạch gì. Tin lời ông N1, bà Đ thống nhất sẽ mua căn nhà và quyền sử dụng đất trên với giá 7.580.000.000 (bảy tỷ năm trăm tám mươi triệu) đồng. Theo đó, ngày 09/4/2024, bà Đ và ông N1 ký kết hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên, cùng ngày, bà Đ đặt cọc cho ông N1 số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng, hai bên hẹn nhau khi nào ký công chứng và hoàn thành thủ tục chuyển nhượng sang tên thì bà Đ sẽ thanh toán số tiền còn lại.

Tại thời điểm ký hợp đồng đặt cọc, ông N1 thông báo cho bà Đ biết là ông N1 không có tài khoản ngân hàng nên yêu cầu bà Đ chuyển số tiền đặt cọc vào tài khoản số 13087737 mở tại Ngân hàng TMCP Á do ông Triệu Quốc D (con trai ông N1) đứng tên chủ tài khoản. Ngay sau đó, bà Đ đã thực hiện 02 lệnh chuyển tiền, một lệnh chuyển 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng và một lệnh chuyển 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng vào tài khoản của ông Triệu Quốc D. Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập thành hai bản, ông N1 giữ bản chính (liên 1), bà Đ giữ bản sao (liên 2), trên cả hai bản hợp đồng đều có chữ ký, dấu lăn tay của bên đặt cọc và bên nhận đặt cọc.

Sau khi giao tiền đặt cọc xong và chờ làm thủ tục chuyển nhượng thì bà Đ liên hệ các cơ quan có thẩm quyền để hỏi về quy hoạch sử dụng đất đối với thửa đất số 51, tờ bản đồ số 60 -ĐK nêu trên thì được biết thửa đất nêu trên bị vướng quy hoạch, không thể chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên bà Đ đã yêu cầu ông N1 trả lại số tiền bà Đ đã đặt cọc là 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng, nhưng ông N1 không đồng ý.

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên hủy hợp đồng đặt cọc ngày 09/4/2024 giữa bà Bùi Thị Kim Đ và ông Triệu Quốc N1; buộc ông Triệu Quốc N1 trả lại cho bà Bùi Thị Kim Đ số tiền cọc 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng.

Chứng cứ do nguyên đơn cung cấp gồm:

  • - Căn cước công dân người khởi kiện (photo chứng thực);
  • - Giấy báo nợ số 1516 và 1518 (bản photo);
  • - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên Triệu Quốc N1 (bản photo);
  • - Giấy Uỷ quyền ngày 21/5/2024;
  • - Bản tự khai của bà Lê Hoàng N ngày 25/7/2024;
  • - Hợp đồng đặt cọc (photo);
  • - Đơn sửa đổi, bổ sung nội dung khởi kiện ngày 02/8/2024.

Tại bản tự khai ngày 25/7/2024, biên bản lấy lời khai ngày 06/8/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Ngày 09/4/2024, ông Triệu Quốc N1 có ký hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 51, tờ bản đồ số 60 - ĐK, diện tích 372m² tọa lạc tại phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương với bà Bùi Thị Kim Đ, giá chuyển nhượng thửa đất là 7.580.000.000 (bảy tỷ năm trăm tám mươi triệu) đồng. Cùng ngày 09/4/2024, bà Đ đặt cọc cho ông N1 số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản số 13087737 mở tại Ngân hàng TMCP Á của ông Triệu Quốc D là con trai ông Triệu Quốc N1 theo yêu cầu của ông N1. Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập thành hai bản, bà Đ giữ bản chính (liên 1), ông N1 giữ bản sao (liên 2), trên cả hai bản hợp đồng đều có chữ ký, dấu lăn tay của bên đặt cọc và bên nhận đặt cọc.

Khi ký hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 51, tờ bản đồ số 60 - ĐK, diện tích 372m² tọa lạc tại phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương với bà Đ thì ông N1 đã thông báo cho bà Đ biết thửa đất nêu trên bị quy hoạch. Khi ký hợp đồng đặt cọc với bà Đ thì trên mẫu hợp đồng đặt cọc có ghi đất “không bị quy hoạch”, ông N1 có chụp hình hợp đồng đặt cọc gửi cho ông D là con ông N1 xem (vì ông D đang đi làm) thì ông D nói với ông N1 là ghi đất “không bị quy hoạch” là sai vì đất đã bị quy hoạch 19 năm nay rồi. Vì vậy, bà Đ đã trực tiếp gạch bỏ (gạch giữa) dòng chữ “không bị quy hoạch” trong hợp đồng đặt cọc do bà Đ giữ, nhưng trên hợp đồng đặt cọc ông N1 giữ thì không gạch bỏ dòng chữ nêu trên do ông N1 quên gạch. Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên được lập thành hai bản, bà Đ giữ bản chính (liên 1), ông N1 giữ bản liên hai (liên 2). Tuy nhiên, ông N1 có chụp hình bản chính của hợp đồng đặt cọc bản chính (liên 1) mà bà Đ giữ gửi cho ông D xem, trên hợp đồng nêu trên đã gạch bỏ dòng chữ “không bị quy hoạch”.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bị đơn không đồng ý. Vì bị đơn đã thông báo cho nguyên đơn biết đất bị quy hoạch. Nếu nguyên đơn không tiếp tục thực hiện hợp đồng đặt cọc thì phải chịu mất số tiền đặt cọc là 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng.

Các tài liệu, chứng cứ bị đơn giao nộp:

  • - Hình chụp Hợp đồng đặt cọc (photo);
  • - Căn cước công dân ông Triệu Quốc N1 (photo);
  • - Hợp đồng đặt cọc (photo);
  • - Bản tự khai của ông Triệu Quốc N1 ngày 25/7/2024;
  • - Hợp đồng Uỷ quyền ngày 01/8/2024;
  • - Căn cước công dân ông Triệu Quốc D (photo).

Tại các bản tự khai ngày 29/8/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Triệu Quốc D trình bày:

Ông D là con ông Triệu Quốc N1, ngày 09/4/2024, ông D có nhận được số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng bà Bùi Thị Kim Đ chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của ông D, ông D biết đây là tiền đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Triệu Quốc N1 và bà Bùi Thị Kim Đ. Số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng nêu trên ông D đã và đang giữ. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Kim Đ thì ông D không đồng ý. Ông D thống nhất ý kiến với bị đơn ông Triệu Quốc N1 về việc nếu nguyên đơn không tiếp tục thực hiện hợp đồng đặt cọc thì phải chịu mất số tiền cọc 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng.

Các tài liệu, chứng cứ ông Triệu Quốc D giao nộp: Bản tự khai của ông Triệu Quốc D ngày 29/8/2024; Thư mời số 879/TM-TTPTQĐ ngày 25/8/2020 về việc họp triển khai kế hoạch đo đạc thực hiện công trình khu dân cư V, phường C, thành phố T; trích lục khai tử của bà Diệp Ngọc B.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Lê Hoàng N trình bày: Phía nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án tuyên hủy hợp đồng đặt cọc giữa bà Đ và ông N1, buộc ông N1 trả lại bà Đ số tiền đặt cọc đã nhận là 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng. Đối với đề nghị của bị đơn tại phiên tòa về việc bị đơn đồng ý hủy hợp đồng đặt cọc giữa bị đơn và nguyên đơn với điều kiện nguyên đơn cho bị đơn thời gian để bị đơn bán đất trả lại tiền cọc cho nguyên đơn, thời gian bao lâu thì bị đơn chưa xác định được thì phía nguyên đơn không đồng ý, phía nguyên đơn chỉ đồng ý cho phía bị đơn thời hạn trả lại số tiền đặt cọc nêu trên trong vòng 01 tháng.

Bị đơn ông Triệu Quốc N1 đồng thời là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Diệp Ngọc B trình bày: Bị đơn có thiện chí hòa giải với nguyên đơn, bị đơn đồng ý hủy hợp đồng đặt cọc giữa bị đơn và nguyên đơn với điều kiện nguyên đơn cho bị đơn thời gian để bị đơn bán đất trả lại tiền cọc cho nguyên đơn, thời gian bao lâu thì bị đơn chưa xác định được. Bị đơn xác nhận chữ ký, dấu vân tay trên hợp đồng đặt cọc mà phía nguyên đơn đang giữ và xuất trình tại phiên tòa là chữ ký và dấu vân tay của bị đơn ông Triệu Quốc N1, trên hợp đồng đặt cọc nêu trên không gạch bỏ (gạch giữa) dòng chữ đất “không bị quy hoạch” như bị đơn trình bày.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Triệu Quốc D, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn và là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Diệp Ngọc B trình bày: Thống nhất với nội dung bị đơn ông Triệu Quốc N1 trình bày tại phiên tòa.

Phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo tố tụng và việc giải quyết vụ án:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc thụ lý vụ án; Xác định tư cách tham gia tố tụng; Giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Thu thập tài liệu chứng cứ; Tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71, 72, 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Ngày 09/4/2024, bà Đ và ông N1 ký hợp đồng đặt cọc với nội dung bà Đ đặt cọc để nhận chuyển nhượng của ông N1 thửa đất số 51, tờ bản đồ 60 - ĐK, diện tích 372m² tọa lạc tại phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Việc các bên thỏa thuận, ký kết hợp đồng đặt cọc là tự nguyện và không bị ai ép buộc. Sau khi ký kết hợp đồng đặt cọc, bà Đ đã chuyển khoản cho ông N1 số tiền đặt cọc là 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng vào tài khoản số 13087737 tại Ngân hàng A của ông Triệu Quốc D (con của ông N1). Tuy nhiên, theo Biên bản xác minh ngày 07/8/2024 tại Ủy ban nhân dân phường C thì phần đất trên nằm trong quy hoạch dự án dân cư Võ Minh Đức theo Quyết định số 4577/QĐ-UBND ngày 25/6/2004 của UBND tỉnh B và đất này không thể chuyển nhượng. Ông N1 cũng thừa nhận phần đất này nằm trong quy hoạch nhưng vẫn ký hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng cho bà Đ. Do đó, việc ông N1 thỏa thuận nhận cọc để chuyển nhượng đất cho bà Đ là không thể thực hiện nên hợp đồng đặt cọc ngày 09/4/2024 cần phải bị hủy bỏ và ông N1 có nghĩa vụ hoàn trả cho bà Đ số tiền đặt cọc là 500.000.000 đồng. Từ phân tích trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngày 29/5/2024, bà Bùi Thị Kim Đ có đơn khởi kiện yêu cầu tòa án tuyên hủy hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Bùi Thị Kim Đ và ông Triệu Quốc N1; buộc ông Triệu Quốc N1 trả lại cho bà Đ số tiền đặt cọc là 500.000.000 đồng, theo “Hợp đồng đặt cọc” các bên ký kết ngày 09/4/2024. Từ các nội dung tranh chấp nêu trên, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo quy định tại Điều 328 của Bộ luật Dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền: Tại thời điểm thụ lý vụ án, bị đơn ông Triệu Quốc N1 đang cư trú tại thành phố T, tỉnh Bình Dương và tài sản có liên quan là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương, nên căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

[1.3] Về việc đưa người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng tham gia vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên là bà Diệp Ngọc B chết. Do đó, Tòa án đã tạm ngừng phiên tòa ngày 23/01/2025 để xác minh, đưa người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Diệp Ngọc B là ông Triệu Quốc N1 và ông Triệu Quốc D vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Diệp Ngọc B theo quy định tại Điều 74 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2]. Những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh:

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, phía nguyên đơn, phía bị đơn, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng trong vụ án đều thống nhất thừa nhận và trình bày: Ngày 09/4/2024, ông Triệu Quốc N1 ký hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 51, tờ bản đồ số 60 - ĐK, diện tích 372m², trên đất có căn nhà cấp 4, tọa lạc tại phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương với bà Bùi Thị Kim Đ, giá chuyển nhượng thửa đất là 7.580.000.000 (bảy tỷ năm trăm tám mươi triệu) đồng. Cùng ngày 09/4/2024, bà Đ đặt cọc cho ông N1 số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản số 13087737 mở tại Ngân hàng A của ông Triệu Quốc D là con trai ông Triệu Quốc N1. Chữ ký, dấu vân tay của bà Bùi Thị Kim Đ, ông Triệu Quốc N1 trên hai bản hợp đồng đặt cọc mà nguyên đơn giữ và bị đơn giữ là chữ ký và dấu vân tay của bà Bùi Thị Kim Đ và ông Triệu Quốc N1. Trong cả hai bản hợp đồng đặt cọc mà phía nguyên đơn và phía bị đơn đang giữ mà các bên cung cấp cho Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, không có bản hợp đồng đặt cọc nào gạch bỏ (gạch giữ dòng chữ) “không bị quy hoạch”. Như vậy, việc thống nhất và thừa nhận của các đương sự đối với những nội dung nêu trên là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Các vấn đề có tranh chấp:

[3.1] Phía nguyên đơn cho rằng thửa đất số 51, tờ bản đồ số 60 - ĐK, diện tích 372m², trên đất có căn nhà cấp 4, tọa lạc tại phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương là đối tượng của hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất là đất bị quy hoạch, không đúng nội dung thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc được ký ngày 09/4/2024 giữa nguyên đơn và bị đơn là đất “không bị quy hoạch”. Nguyên đơn không thống nhất với lời trình bày của bị đơn về việc bị đơn đã thông báo cho nguyên đơn được biết về việc thửa đất bị quy hoạch trước khi ký hợp đồng đặt cọc và nguyên đơn đã gạch bỏ (gạch giữa dòng chữ) “không bị quy hoạch” trên hợp đồng đặt cọc bản chính (liên 1) do nguyên đơn giữ, vì nguyên đơn chỉ giữ bản liên 2, bị đơn mới là bên giữ bản chính (liên 1) của hợp đồng đặt cọc. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên hủy bỏ hợp đồng đặt cọc và buộc bị đơn trả lại nguyên đơn số tiền đã đặt cọc là 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng theo hợp đồng đặt cọc ký ngày 09/4/2024.

[3.2] Phía bị đơn ông N1 cho rằng trước khi ký hợp đồng đặt cọc ngày 09/4/2024 với nguyên đơn bà Đ thì ông N1 đã thông báo cho bà Đ biết thửa đất nêu trên bị quy hoạch. Khi ký hợp đồng đặt cọc với bà Đ thì trên mẫu hợp đồng đặt cọc có ghi đất “không bị quy hoạch”, ông N1 có chụp hình hợp đồng đặc cọc gửi cho ông D là con ông N1 xem thì ông D nói với ông N1 là ghi đất “không bị quy hoạch” là sai vì đất đã bị quy hoạch 19 năm nay rồi. Sau đó, bà Đ đã gạch bỏ (gạch giữa dòng chữ) “không bị quy hoạch” trong hợp đồng đặt cọc liên 1 (bản chính) do bà Đ giữ, phía bị đơn chỉ giữ hợp đồng đặt cọc liên 2. Trên bản hợp đồng đặt cọc bà Đ giữ thì bà Đ đã gạch bỏ phần ghi “không bị quy hoạch”, nhưng bên liên 2 của hợp đồng đặt cọc mà ông N1 giữ thì bà Đ và ông N1 không gạch bỏ phần ghi “không bị quy hoạch”. Tuy nhiên, ông N1 có chụp hình bản chính của hợp đồng đặt cọc và gửi cho ông D con của ông N1 xem bản chính của hợp đồng đặt cọc đã gạch bỏ dòng chữ “không bị quy hoạch”.

[3.3] Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ tài liệu, chứng cứ là các bản hợp đồng đặt cọc mà nguyên đơn, bị đơn cung cấp cho Tòa án thể hiện cả hai bản hợp đồng đặt cọc nêu trên đều không phải là bản chính, nhưng có chữ ký, dấu vân tay của nguyên đơn và bị đơn, nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận chữ ký, dấu vân tay của mình trên cả hai bản hợp đồng đặt cọc. Cả hai bản hợp đồng đặt cọc đều không gạch bỏ (gạch giữa dòng chữ) “không bị quy hoạch” như phía bị đơn trình bày. Bị đơn cho rằng bản hợp đồng nguyên đơn giữ là bản chính và đã gạch bỏ (gạch giữa dòng chữ) “không bị quy hoạch”, nhưng không đưa ra được tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh, ngoài tin nhắn zalo giữa bị đơn và con của bị đơn là ông Triệu Quốc D có hình ảnh chụp bản hợp đồng có gạch bỏ (gạch giữa dòng chữ) “không bị quy hoạch”, nhưng nguyên đơn không thừa nhận. Lời phủ nhận của nguyên đơn phù hợp với bản hợp đồng đặt cọc nguyên đơn giữ và giao nộp cho Tòa án cũng không gạch bỏ (gạch giữa dòng chữ) “không bị quy hoạch” trong hợp đồng đặt cọc. Do đó, lời trình bày của bị đơn về việc bị đơn đã thông báo cho nguyên đơn biết thửa đất số 51, tờ bản đồ số 60 - ĐK, diện tích 372m² tọa lạc tại phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương bị quy hoạch là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên hủy bỏ hợp đồng đặt cọc ngày 09/4/2024 giữa nguyên đơn và bị đơn và buộc bị đơn trả lại nguyên đơn số tiền đã đặt cọc là 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng: Hội đồng xét xử xét thấy, hợp đồng đặt cọc được ký kết ngày 09/4/2024 giữ bà Bùi Thị Kim Đ và ông Triệu Quốc N1 là sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bên, mục đích và nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, các bên đương sự có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên hợp đồng đặt cọc có hiệu lực theo quy định tại khoản 2 Điều 3, Điều 117 và Điều 328 của Bộ luật Dân sự. Các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết theo quy định tại khoản 2 Điều 401 Bộ luật Dân sự. Căn cứ kết quả xác minh ngày 07/8/2024 của TAND thành phố Thủ Dầu Một tại UBND phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương, thể hiện: Thửa đất số 51, Tờ bản đồ số 60-ĐK, diện tích 372m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H01934 thuộc quy hoạch dự án dân cư Võ Minh Đức theo Quyết định số 4577/QĐ-CT ngày 25/6/2004 của Chủ tịch UBND tỉnh B và thửa đất nêu trên không được phép chuyển nhượng do đang có quy hoạch. Do đó, nguyên đơn căn cứ vào thỏa thuận giữa nguyên đơn và bị đơn trong hợp đồng đặt cọc về việc “Nếu thửa đất có tranh chấp, quy hoạch, kê biên thì Bên B (nguyên đơn) được quyền lấy lại tiền đã đặt cọc cho Bên A (bị đơn)” yêu cầu hủy bỏ hợp đồng đặt cọc, buộc bị đơn trả lại số tiền đặt cọc đã nhận là đúng theo nội dung thỏa thuận mà hai bên đã giao kết trong hợp đồng đặt cọc và phù hợp với quy định tại Điều 328 và Điều 427 Bộ luật Dân sự nên được chấp nhận.

[5]. Nguyên đơn đã thanh toán số tiền đặt cọc 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng vào tài khoản ngân hàng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Triệu Quốc D theo yêu cầu của bị đơn ông Triệu Quốc N1. Ông D cũng thừa nhận đã nhận đủ số tiền nêu trên, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, ông N1 không có tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết đối với số tiền 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng ông D đã nhận thay ông N1. Do đó, Tòa án không xem xét giải quyết. Trường hợp có tranh chấp thì ông N1 và ông D được quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.

[6]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị đơn ông Triệu Quốc N1 là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 39; Điều 74; Điều 92, Điều 146, Điều 147, Điều 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 3, Điều 117, Điều 238, Điều 328, Điều 401, Điều 427 Bộ luật Dân sự năm 2015;

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Kim Đ đối với bị đơn ông Triệu Quốc N1 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
  2. Tuyên bố hủy bỏ hợp đồng đặt cọc ký ngày 09/4/2024 giữa bà Bùi Thị Kim Đ và ông Triệu Quốc N1.
  3. Buộc ông Triệu Quốc N1 có trách nhiệm trả cho bà Bùi Thị Kim Đ số tiền đặt cọc là 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì hàng tháng còn phải trả tiền lãi, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Ông Triệu Quốc N1 là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một trả lại cho bà Bùi Thị Kim Đ số tiền 12.000.000 (mười hai triệu) đồng nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền nộp tạm ứng án phí Tòa án số 0004572 ngày 18/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.
  5. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng báo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Thủ Dầu Một;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Dầu Một;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Khương Minh Trí

9

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/DS-ST ngày 21/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 34/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị Kim Đ “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” Triệu Quốc N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger