Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/DS-PT

Ngày: 21-02-2025

V/v: “Tranh chấp về giao dịch

dân sự, hợp đồng dân sự”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Hà Giang;

Các thẩm phán: bà Triệu Thị Luyện và bà Phạm Thị Chuyền;

Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Ngọc Thương Hiền – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: bà Nguyễn Thị Tuyết – Kiểm sát viên trung cấp.

Trong các ngày 21/01/2025 và 21/02/2025, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 234/2024/TLPT-DS ngày 12/11/2024 về việc “Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự” do bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 24/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Dũng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 223/2024/QĐ-PT ngày 18/10/2024, Quyết định hoãn phiên toà số 433/QĐ-PT ngày 13/12/2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 03/2025/TB-TA_ngày 03/01/2025 và Quyết định tạm ngừng phiên toà số 23/2025/QĐ-PT ngày 21/01/2025 giữa các đương sự:

Đồng nguyên đơn:

  1. Anh Ngô Đức P, sinh năm 1990 (có mặt);
  2. Chị Nguyễn Thị P1, sinh năm 1989 (có mặt);

Đều cư trú: thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Ngô Đức P, chị Nguyễn Thị P1: Luật sư Đặng Văn C (vắng mặt), Luật sư Trân Thị Thanh L (có mặt) - thuộc Văn phòng L1 - Đoàn luật sư thành phố H. Địa chỉ: số F, phố T, phường Q, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Bị đơn:

chị Trần Thị H, sinh năm 1983 (có mặt tại phiên toà ngày 21/01/2025; vắng mặt tại phiên toà ngày 21/02/2025);

Nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện Y (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1983 (vắng mặt);
  2. Ông Trần Văn H1, sinh năm 1954 (vắng mặt);

Đều cư trú: thôn T, xã Đ, huyện Y (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang.

  1. Ông Trần Văn T, sinh năm 1974 (vắng mặt);
  2. Bà Trần Thị T1, sinh năm 1975 (vắng mặt);

Đều địa chỉ: thôn B, xã Đ, huyện Y (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang.

  1. Ông Nguyễn Quốc T2, sinh năm 1955 (vắng mặt);
  2. Bà Trần Thị H2, sinh năm 1958 (vắng mặt);

Đều địa chỉ: thôn B, xã Đ, huyện Y (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang.

  1. UBND xã Đ, huyện Y (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang do ông Nguyễn Thế Đ, Chủ tịch, đại diện (vắng mặt).

Người kháng cáo: anh Ngô Đức P, chị Nguyễn Thị P1 là nguyên đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 24/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Dũng, nội dung vụ án như sau:

Nguyên đơn là anh Ngô Đức P, chị Nguyễn Thị Phương trình bày:

Anh chị nhận chuyển nhượng từ chị Trần Thị H các thửa đất làm 4 lần, lần đầu nhận chuyển nhượng 200m2 ở thôn T năm 2019; lần hai nhận chuyển nhượng 324m2 đất ở mặt đường C; lần ba nhận chuyển nhượng 100m2 đất ở thôn T năm 2021 và lần 4 nhận chuyển nhượng thửa đất ở xã C, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Anh chị đã thanh toán tiền đầy đủ và chị H đã ký giấy tờ mua bán. Cụ thể như sau:

- Ngày 20/10/2019, chị H bán cho anh chị thửa đất giáp mặt đường 34 cũ làn 2 của mặt đường 398 tại thôn T, xã Đ, huyện Y diện tích 200m2 ngang bám mặt đường 10m, chiều sâu 20m, giá là 200.000.000 đồng. Hai bên đã lập “Biên bản bán đất ở gần bến phà Đ” ngày 20/10/2019 có chữ ký của chị H và vợ chồng anh chị, còn tiền làm sổ đỏ sẽ nộp sau.

Ngày 15/11/2019, chị H tiếp tục bán cho anh chị thửa đất thuộc khu vực X, thôn B, xã Đ, huyện Y chiều dài 27m, chiều rộng 12m, diện tích 324m2 với số tiền là 450.000.000 đồng. Hai bên lập “Giấy mua bán đất” có chữ ký của chị H và vợ chồng anh chị, nội dung xác nhận anh chị trả trước 200.000.000 đồng, số còn lại và tiền làm sổ sẽ trả sau.

Về việc thanh toán tiền 2 lô đất này thì tổng tiền anh chị phải thanh toán là 650.000.000 đồng, chị H cấn trừ tiền anh P chạy vật liệu xây dựng là 200.000.000 đồng, tổng còn thiếu là 450.000.000 đồng. Sau đó chị H tiếp tục cấn trừ tiền anh chị nợ riêng là 305.000.000 đồng, còn lại anh chị nợ 145.000.000 đồng. Số tiền nợ này sau đó tiếp tục được cấn trừ vào tiền chị H nợ anh P chạy vật liệu. Từ đó coi như vợ chồng anh chị đã thanh toán đầy đủ tổng số tiền mua đất 2 lô này. Việc cấn trừ nợ được chị H xác nhận tại giấy viết tay ngày 26/4/2020 có chữ ký của chị H và chị H ký xác nhận trong sổ xác nhận công nợ chạy công vật liệu xây dựng của vợ chồng anh chị.

Về tiền làm sổ đỏ hai lô đất trên, mỗi lô hết 200.000.000 đồng thì tổng tiền làm sổ là 400.000.000 đồng, anh chị đã chuyển khoản nhiều lần cho chị H vào tài khoản của chị H tại Ngân hàng N (A) (có sao kê) đủ số tiền này. Ngoài ra anh chị còn chuyển khoản 60.000.000 đồng tiền cọc thêm tiền lấy giấy tờ mua bán đất với lô đất sau nhà chị H mà anh chị mua ngày 20/10/2019.

Tổng số tiền chuyển cho chị H ở các lô đất trên là 650.000.000 tiền nhận chuyển nhượng đất và 460.000.000 đồng làm sổ và cọc lấy giấy tờ là 1.110.000.000 đồng.

- Ngày 6/2/2021, chị H bán cho anh chị lô đất 5m chiều rộng tại thôn T, xã Đ, huyện Y, sát lô 11m đã mua từ ngày 20/10/2019, làn 2 của đường 398 sau nhà chị H hiện đang ở với giá 300.000.000 đồng, lô đất này cạnh nhà ông K. Hai bên có lập “Giấy mua bán đất” có chữ ký của chị H và vợ chồng anh chị. Chị H xác nhận đã nhận đủ số tiền 300.000.000 đồng này. Việc chuyển số tiền này bao gồm cả chuyển khoản và cấn trừ nợ giữa hai Bên. Để tạo tin tưởng thì chị H còn đưa cho anh chị sổ đỏ của ông Trần Văn H1 để khi nào chị H giao sổ đỏ lô đất này thì anh chị trả lại sổ đỏ ông H1 cho chị H. Như vậy lô đất này tổng số tiền nhận chuyển nhượng mà anh chị đã trả cho chị H là 300.000.000 đồng

- Ngoài ra chị H còn rủ anh chị mua chung lô đất ở xã C, huyện Y. Thời điểm này do chị H nợ tiền chạy vật liệu xây dựng của anh chị nên bảo chưa có tiền trả thì lấy bằng đất. Như vậy số tiền mua Lô đất này là cấn trừ từ tiền chị H còn nợ tiền chạy vật liệu xây dựng là 387.000.000 đồng và chị chuyển khoản thêm 60.000.000 đồng, tổng là 447.000.000 đồng. Việc mua bán lô đất này được chị H thừa nhận tại giấy viết tay có chữ ký của chị H ngày 27/8/2023 và trong sổ công nợ chạy vật liệu xây dựng của anh chị.

- Ngoài ra anh chị còn chuyển cho chị H tiền bồi dưỡng làm sổ đỏ các lô đất là 100.000.000 đồng để chị H sớm bàn giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) các lô đất cho anh chị; Chuyển tiền cọc lấy hồ sơ đối với thửa đất mua sau nhà chị H là 30.000.000 đồng.

Tính tổng số tiền mà gia đình anh chị đã thanh toán cho chị H để nhận chuyển nhượng đất và làm sổ đỏ, tiền bồi dưỡng là 1.987.000.000 đồng. Anh chị nhiều lần yêu cầu chị H bàn giao các thửa đất và GCNQSDĐ đối với các thửa đất trên nhưng chị H không bàn giao.

Nay, anh chị nghi ngờ các thửa đất mà chị H rao bán cho anh chị là không có thật và không phải của cá nhân chị H mà do chị H đưa ra thông tin giả vì chị H không bàn giao được đất cho anh chị, không nói cho anh chị biết thửa đất có số thửa và tờ bản đồ bao nhiêu, tứ cận ra sao. Những thông tin chị H ghi trong giấy tờ chỉ là do tự chị H nói, anh chị không được bàn giao đất thực tế, do đó anh chị cũng không biết được giá trị thực tế các thửa đất đó. Khi anh chị đến tìm hiểu tại lô đất sau nhà chị H thì chị H không cho vào. Lô đất ở khu vực X, thôn B, xã Đ, huyện Y thì do người khác quản lý và bảo không phải của chị H. Còn lô đất ở Cảnh T anh chị không biết vị trí cụ thể ở đâu và có thật hay không. Anh chị đã làm đơn tố cáo ra cơ quan CSĐT Công an tỉnh B nhưng cơ quan điều tra hướng dẫn vụ việc dân sự nên hướng dẫn anh chị đề nghị Tòa án giải quyết.

Sau đó anh chị được biết thửa đất trên chưa được cấp GCNQSDĐ thì không được phép giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bên cạnh đó các giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên không được lập thành Hợp đồng chuyển nhượng có công chứng theo quy định pháp luật. Do đó các giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh chị và chị H là vô hiệu.

Anh chị yêu cầu Tòa án tuyên các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh chị và chị Trần Thị H vô hiệu, bao gồm:

  • “Biên bản bán đất ở gần bến phà Đ” ngày 20/10/2019 và “Giấy mua bán đất” ngày 6/2/2021 đối với thửa đất diện tích 300m2 thuộc thửa đất lớn diện tích 460m2 (23x20m) tại thôn T, xã Đ, huyện Y.
  • Giấy mua bán đất” ngày 15/11/2019 đối với thửa đất diện tích 324m2 (12x27m) ở mặt đường C thuộc khu vực X, thôn B, xã Đ, huyện Y.
  • Giấy viết tay có chữ ký xác nhận của chị H ngày 27/8/2023 đối với thửa đất ở xã C, huyện Y.
  • Buộc chị Trần Thị H trả cho vợ chồng anh chị số tiền là 1.987.000.000 đồng.

Bị đơn – chị Trần Thị H trình bày:

thửa đất diện tích 300m2 (chiều ngang 15m, sâu 20m, thuộc thửa đất lớn diện tích 460m2 (chiều dài 23x chiều rộng 20m) tại thôn B, xã Đ, huyện Y (mà không phải thôn Thượng giáp mặt đường 34 cũ. Làn 2 của đường 398) như chị P1, anh P trình bày do chị và chồng là anh Nguyễn Văn S đang quản lý, sử dụng. Nguồn gốc thửa đất do chị mua của vợ chồng ông Trần Văn T, bà Trần Thị T1 bằng giấy viết tay, đất chưa có sổ đỏ với giá 250.000.000 đồng nhưng giấy chỉ ghi 150,000,000 đồng (chị không có tranh chấp gì với ông T, bà T1). Thực tế thửa đất có diện tích 345m2, chiều dài 15m, chiều rộng 23m.

Chị mua của vợ chồng ông Nguyễn Quốc T2, bà Trần Thị H2 bằng giấy viết tay nhưng chỉ ghỉ giáp ranh, diện tích 95m2, ghi chiều ngang, chiều sâu, đất chưa có sổ đỏ. Thực tế rộng 5m, chiều dài 23m (chị không có tranh chấp gì với ông T2, bà H2).

Ngày 20/10/2019, chị bán cho vợ chồng chị P1, anh P thửa đất giáp mặt đường 34 cũ làn 2 của mặt đường 398 tại thôn T, xã Đ, huyện Y diện tích 200m2, chiều mặt đường 10m, chiều sâu 20m, giá là 200.000.000 đồng. Hai bên đã lập “Biên bản bán đất ở gần bến phà Đ” ngày 20/10/2019 có chữ ký của hai bên, nội dung số tiền mua đất là 200.000.000 đồng, còn tiền làm sổ đỏ sẽ nộp sau. Nhưng thực tế chị P1, anh P chưa thanh toán 200.000.000 đồng này cho chị và chị chưa bàn giao đất cho chị P1, anh P.

Ngày 15/11/2019, chị bán cho vợ chồng chị P1, anh P thửa đất diện tích 324m2 (chiều rộng 12x chiều dài 27m) ở mặt đường C thuộc khu vực X, thôn B, xã Đ, huyện Y với giá là 450.000.000 đồng, đất này chưa có sổ đỏ. Chị chưa bàn giao đất này cho chị P1, anh P. Sau nhiều lần đòi thì chị P1 đã chuyển khoản chị thực nhận 02 lần với tổng số tiền là 400.000.000 đồng nhưng chị P1 lại ghi nội dung chuyển khoản là làm sổ đỏ nên chị không đồng ý. Do vậy, giữa chị và chị P1, anh P ghi gộp chuyển nhượng vào giấy ghi ngày 09/11/2023 trên là 400.000.000 đồng.

Chị có nhận của chị P1 chuyển khoản 60.000.000 đồng nhưng không có nội dung tiền cọc thêm tiền lấy giấy tờ mua bán đất với lô đất sau nhà chị mà vợ chồng chị P1, anh P mua ngày 20/10/2019. Số tiền này là tiền làm ăn thanh toán qua lại với nhau nhiều mã. Ngày 06/02/2021, chị và chị P1, anh P đã thanh toán hết nợ nần với nhau, lý do các mã chuyển tiền chị P1 viết nội dung không đúng sự thật.

Chị xác định việc chị P1, anh P trình bày: “Việc thanh toán tiền 2 lô đất này là 650 triệu đồng, bà H cấn trừ tiền anh P chạy vật liệu xây dựng là 200 triệu đồng, tổng còn thiếu là 450 triệu đồng. Sau đó bà H tiếp tục cấn trừ tiền nợ riêng là 305 triệu đồng thì còn lại vợ chồng anh chị nợ 145 triệu đồng. Số tiền nợ này sau đó tiếp tục được cấn trừ vào tiền bà H nợ anh P chạy vật liệu. Từ đó coi như vợ chồng anh chị đã thanh toán đầy đủ tổng số tiền mua đất 2 lô này. Việc cấn trừ nợ được bà H xác nhận tại giấy viết tay ngày 26/4/2020 có chữ ký của bà H và bà H ký xác nhận trong sổ xác nhận công nợ chạy công vật liệu xây dựng của vợ chồng anh chị” là không đúng và chị có ký giấy viết tay ngày 26/4/2020 này nhưng không biết nội dung.

Thực tế ngày 09/9/2019 và ngày 13/9/2019 chị thanh toán cho chị P1, anh P 94.000.000 đồng tiền vật liệu. Từ năm 2019 đến 2021 chị trả cho anh P tiền dầu gần 100.000.000 đồng. Ngày 13/3/2020, ch ị thanh toán cho chị P1, anh P 60.000.000 đồng tiền vật liệu và ký nhận với chị không mua bán lô đất nào. Ngày 18/3/2020, chị thanh toán cho chị P1, anh P 40.000.000 đồng tiền vật liệu. Ngày 24/4/2022, chị thanh toán cho chị P1, anh P 61.000.000 đồng tiền vật liệu. Toàn bộ tiền vật liệu, thanh toán tiền đầu này không liên quan đến tranh chấp.

Chị xác định: tổng số tiền chuyển cho bà H ở các lô đất trên là 650.000.000 đồng tiền nhận chuyển nhượng đất và 460.000.000 đồng tiền làm sổ và cọc lấy giấy tờ, tổng 1.110.000.000 đồng là không đúng sự thật mà là tiền làm ăn với nhau và chị cùng anh P, chị P1 đã thanh toán với nhau bằng tiền.

Ngày 06/02/2021, chị bán cho chị P1, anh P diện tích 100m2, có chiều ngang 05 m, chiều sâu 20m (nằm trong diện tích 460m2 đất trên) với giá 500.000.000 đồng nhưng chỉ ghi số tiền chị thực nhận là 300.000.000 đồng (nhưng thực tế chị chỉ nhận 200.000.000 đồng, chị P1, anh P nợ lại 200.000.000 đồng. Chị có đưa 01 GCNQSDĐ mang tên ông Trần Văn H1 (sinh năm 1954 cư trú: thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đã chết năm 2014) để chị P1, anh P đi vay tiền (Chị làm giúp thủ tục đất cho ông Trần Văn H1 mà chị không mua bán, chuyển nhượng gì đất của ông H1 với chị P1, anh P). Khi nào chị làm sổ đỏ này cho chị P thì chị P1 trả lại sổ đỏ của ông H1 và chị P1 trả lại hết tiền cho chị. Chị có trách nhiệm làm sổ đỏ cho chị P1, anh P đối với 100m2 này nhưng sau đó chị P1, anh P đã lấy lại toàn bộ giấy tờ và không nhờ chị làm sổ đỏ nữa.

Chị xác định: không có việc chị rủ vợ chồng chị P1, anh P mua chung lô đất ở xã C, huyện Y. Không có việc chị nợ tiền chạy vật liệu xây dựng của vợ chồng chị P1, anh P và không có việc chị bảo chưa có tiền trả thì lấy bằng đất. Không có việc chị cấn trừ từ tiền nợ chạy vật liệu xây dựng là 387.000.000 đồng và không có việc chị P1 chuyển khoản thêm 60.000.000 đồng, tổng là 447.000.000 đồng. Chị xác nhận ngày 27/8/2023 có viết, ký giấy việc mua bán lô đất này nhưng giữa chị và chị P1 đã xác nhận năm 2021, 2022 là đã thanh toán hết và không mua bán lô đất nào. Đến năm 2023 chị P1 ký kết với chị 02 tờ sẽ lấy gọn vào 01 lô đất diện tích 320m2, chiều ngang là 16m, rộng 20m và tất cả các khoản tiền đã thanh toán xong và nhờ chị viết 01 giấy ngày 27/8/2023 xác nhận bán cho các lô đất để nói với gia đình chồng. Ngược lại chị P1 ký cho chị 0 giấy nếu chị P1, anh P kiện chị thì chị P1 chịu trách nhiệm.

Chị có nhận 100.000.000 đồng tiền chị P1, anh P chuyển nhưng lại ghi tiền bồi dưỡng và chị đã trả lại tiền và có thanh toán lại cho chị P1, anh P bằng tiền mặt và đã xác nhận với chị.

Chị không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị P1, anh P nêu trên. Chồng chị là anh Nguyễn Văn S không liên quan đến giao dịch và không nhận tiền trên. Việc giao dịch trên là tiền riêng của chị, không liên quan đến tài sản chung vợ chồng chị.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Nguyễn Văn S trình bày:

Anh xác định các mã giao dịch tiền bạc mua bán đất và làm ăn mà anh Ngô Đức P, chị Nguyễn Thị P1 với vợ anh là Trần Thị H có nhiều lần bảo anh ký nhưng anh chưa nhận được tiền nên anh không ký. Anh không liên quan đến giao dịch, không liên quan đến tài sản chung hai vợ chồng anh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Trần Văn T, chị Trần Thị T1 cùng thống nhất trình bày:

ngày 01/12/2019, vợ chồng anh chị có nhượng bán cho chị Trần Thị H diện tích 315m2 đất chưa có sổ đỏ, địa chỉ đât tại: thôn T, xã Đ, huyện Y giáp đất nhà ông K với giá 150.000.000 đồng. Anh chị đã nhận đủ tiền. Anh chị không có tranh chấp hoặc yêu cầu gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Nguyễn Quốc T2 trình bày:

ngày 01/1/2012, ông có nhượng bán cho chị Trần Thị H lô đất có chiều rộng 20, chiều dài 27m đất chưa có sổ đỏ, địa chỉ đât tại: xứ đồng V (tên khác là Xó C1), thôn B, xã Đ, huyện Y mà Hội đồng thẩm định ngày 08/8/2024 với giá 600.000.000 đồng. Ông đã nhận đủ tiền. Ông xác định đây là là tài sản riêng của ông, không liên quan tài sản chung vợ chồng ông. Ông không có tranh chấp gì, đề nghị không đưa vợ chồng ông tham gia tố tụng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - UBND xã Đ, huyện Y do ông Nguyễn Thế Đương đại D trình bày:

việc Tòa án đề nghị xác định nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng và việc cấp GCNQSDĐ, sự phù hợp với quy hoạch tại các thửa đất: thửa đất số 565, tờ bản đồ số 60 diện tích 460m2 và phần diện tích 300m2 sau khi kiểm tra đối chiếu bản đồ địa chính chính quy xã Đ tại tờ bản đồ số 60 không có thửa đất số 565 (diện tích 460m2 và diện tích 300m2). Thửa đất số 84, tờ bản đồ số 60 (12m rộng x 27m dài) trên bản đồ thuộc đất giao thông do UBND xã quản lý, UBND xã không giao cho tổ chức, cá nhân nào sử dụng. “Việc hai bên chuyển nhượng các thừa đất không được GCNQSDĐ có trong bản đồ địa chính là trái quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Trần Thị H2 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án để làm việc.

Với những nội nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 24/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Dũng đã căn cứ Điều 164, Điều 167, Điều 168, Điều 188 Luật đất đai 2013, Điều 7, khoản 03 Điều 27 Luật đất đai; Điều 119, Điều 123, Điều 129, Điều 131, Điều 132, Điều 398, Điều 407, Điều 500, Điều 501, Điều 502 của BLDS. xử: không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Đức P, chị Nguyễn Thị P1 về việc tuyên các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Ngô Đức P, chị Nguyễn Thị P1 và chị Trần Thị H vô hiệu, bao gồm:

  • Biên bản bán đất ở gần bến phà Đ ngày 20/10/2019 và Giấy mua bán đất ngày 6/2/2021 đối với thửa đất diện tích 300m2 thuộc thửa đất lớn diện tích 460m2 (23x20m) tại thôn T, Đ, Y, Bắc Giang.
  • Giấy mua bán đất ngày 15/11/2019 đối với thửa đất diện tích 324m2 (12x27m) ở mặt đường C thuộc khu vực X, thôn B, xã Đ, Y, Bắc Giang.
  • Giấy viết tay có chữ ký xác nhận của chị H ngày 27/8/2023 đối với thửa đất ở xã C, Y, Bắc Giang.

Buộc chị Trần Thị H trả cho vợ chồng anh Ngô Đức P, chị Nguyễn Thị P1 số tiền là 1.987.000.000 đồng.

Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng, quyền yêu cầu thi hành án, quyền kháng cáo cho các bên đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27/9/2024, anh Ngô Đức P, chị Nguyễn Thị P1 kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, áp dụng sai pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và kháng cáo. Các đương sự không thoả thuận được với nhau về toàn bộ nội dung vụ án.

Tranh luận:

Luật sư L trình bày qua diễn biến tại phiên toà phúc thẩm và các tài liệu thể hiện việc mua bán đất là bản gốc do nguyên đơn cung cấp tại cấp phúc thẩm, bị đơn thừa nhận có ký vào các giấy tờ mua bán này nên có căn cứ khẳng định các bên có thực hiện các giao dịch trên cùng với các bản sao kê tài khoản ngân hàng thể hiện chuyển tiền giữa các bên. Việc chị H không thừa nhận số tiền nhận của nguyên đơn như nguyên đơn trình bày là không có căn cứ. Căn cứ vào quy định của Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành thì thấy các giao dịch chuyển nhượng đất giữa hai bên là vô hiệu nên các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và cũng được Toà án sơ thẩm nhận định, tuy nhiên do nguyên đơn không cung cấp bản chính các giấy tờ mua bán này nên Tòa án sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại cấp phúc thẩm nguyên đơn đã cung cấp bản gốc các giấy mua bán này nên có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Các tài liệu phía bị đơn cung cấp có nhiều mâu thuẫn, có dấu hiệu của việc việc chèn, tẩy xoá nội dung để có lợi cho bị đơn, thể hiện việc bị đơn làm giả tài liệu để chiếm đoạt tài sản của nguyên đơn. Mặt khác bị đơn không tiến hành làm sổ đỏ nhưng thực tế đã nhận tiền làm sổ đỏ của nguyên đơn, sau đó không làm nhưng cũng không trả lại tiền cho nguyên đơn. Đề nghị HĐXX huỷ bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại và cấp sơ thẩm tách tài liệu liên quan đến hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị H chuyển sang cơ quan điều tra làm rõ.

Anh P, chị P1 nhất trí với ý kiến tranh luận của các Luật sư L không bổ sung gì thêm.

Chị H vắng mặt tại phiên toà ngày 21/02/2025.

Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa và tại phiên tòa, Thẩm phán, HĐXX, Thư ký đã thực hiện đúng, đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS), nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quyền nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS. Sau khi xem xét yêu cầu kháng cáo của anh Ngô Đức P, chị Nguyễn Thị P1, phân tích nội dung, các tình tiết của vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của anh P, chị P1; áp dụng khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ LTTDS hủy bản án sơ thẩm; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án; anh P, chị P1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

[1] Về tố tụng: một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 296 của BLTTDS tiếp tục tiến hành xét xử vụ án.

[2] Xét kháng cáo của anh P, chị H, HĐXX thấy: anh Ngô Đức P, chị Nguyễn Thị Phương trình B giữa anh P, chị P1 và chị Trần Thị H có thỏa thuận mua đất 04 lần và ký kết, thanh toán tiền mua đất, tiền làm sổ đỏ, tiền cọc thêm tiền lấy giấy tờ mua bán đất, tiền bồi dưỡng làm sổ đỏ với tổng số tiền 1.987.000.000 đồng. Tuy nhiên phía anh P, chị P1 thừa nhận không được bàn giao các thửa đất, lô đất mà chị H nêu trên. Các bên không có văn bản chốt nợ, thanh toán giao dịch mua bán đất trên. Các sao kê chuyển tiền mua đất do nguyên đơn cung cấp không thể hiện vị trí, diện tích, địa chỉ cụ thể, rõ ràng và số tiền sao kê chuyển tiền cho chị H cũng không khớp và ít hơn số tiền 1.987.000.000 đồng theo như anh P, chị P1 khai. Địa chỉ thửa đất, lô đất mà anh P, chị P1 nhận chuyển nhượng ghi trong đơn khởi kiện là thôn T, xã Đ thì khác với địa chỉ khi đi thẩm định ngày 8/8/2024 là thôn B, xã Đ.

[3] Phía chị H thừa nhận việc chuyển nhượng đất cho anh P, chị P1 như các giấy tờ phô tô mà anh P, chị P1 cung cấp gồm các giấy ngày 20/10/2019, ngày 15/11/2019 và ngày 06/02/2020 (bút lục số 97, 98) nhưng không thừa nhận đã nhận tiền khi bán đất như chị P1, anh P trình bày. Chị H xác định là các giao dịch làm ăn khác và không liên quan đến việc mua bán đất.

[4] Như vậy, việc nguyên đơn xuất trình 03 bản phô tô giấy tờ mua bán đất trên và được bị đơn thừa nhận là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của BLTTDS. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định do nguyên đơn không cung cấp bản gốc các hợp đồng này mặc dù đã được Tòa án ra quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ nên không có căn cứ để tuyên vô hiệu các hợp đồng trên và từ đó không giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là chưa đảm bảo quy định của pháp luật.

[5] Các giấy tờ khác mà các đương sự giao nộp về nội dung thanh toán các khoản tiền vay, tiền mua bán đất, tiền vật liệu xây dựng, các sao kê tài khoản ngân hàng liên quan đến việc thanh toán tiền nhận chuyển nhượng đất có nhiều mâu thuẫn chưa được làm rõ. Vì vậy các đương sự cần chứng minh cho việc thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng các bên đã ký để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

[6] Các giấy tờ do bị đơn cung cấp (từ bút lục 170 đến bút lục 174) thể hiện không còn nguyên vẹn, nguyên đơn không thừa nhận toàn bộ nội dung và cho rằng có việc viết thêm, viết chèn như giấy viết năm 2020 nhưng lại có nội dung thanh toán đến năm 2022, nhiều chỗ bị tẩy xóa, sửa chữa, nhiều loại mực khác nhau nhưng cũng chưa được làm rõ.

[7] Theo cung cấp của UBND xã Đ thì thửa đất số 565, tờ bản đồ số 60 diện tích 460m2 (23 x 20m) và phần diện tích 300m2 (15m rộng x 20m dài) sau khi kiểm tra đối chiếu bản đồ địa chính, chính quy xã Đ tại tờ bản đồ số 60 không có thửa đất số 565 (diện tích 460m2 và diện tích 300m2). Thửa đất số 84, tờ bản đồ số 60 (12m rộng x 27m dài) trên bản đồ thuộc đất giao thông do UBND xã Đ quản lý, UBND xã Đ không giao cho tổ chức, cá nhân nào sử dụng.

Lô đất ở xã C, huyện Y theo Giấy viết tay mà anh P, chị P1 cho rằng có chữ ký xác nhận của chị H ngày 27/8/2023 mà anh P1, chị P1 khai mua chung với chị H thì thực tế không có lô đất này.

[8] Như vậy việc chị H và anh P, chị P1 lập các giấy tờ mua bán đất ngày 20/10/2019, ngày 15/11/2019 và ngày 06/02/2020 đối với các thửa đất nêu trên khi chị H chưa được cấp GCNQSDĐ, không đúng vị trí các thửa đất, ghi thiếu thông tin diện tích đất chuyển nhượng là vô hiệu về hình thức, nội dung theo quy định tại Điều 119, Điều 123, Điều 129 của Bộ luật dân sự. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh P, chị P1 là không đảm bảo quy định của pháp luật.

[9] Do Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chưa giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Vì vậy, mặc dù tại cấp phúc thẩm, anh P, chị P1 đã giao nộp bản gốc các giấy tờ mua bán đất trên và các chứng từ chuyển khoản thanh toán tiền mua đất để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình nhưng HĐXX giải quyết ngày các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gồm cả yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là số tiền 1.987.000.000 đồng sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chị H.

Để đảm bảo nguyên tắc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, HĐXX thấy cần chấp nhận kháng cáo của anh P, chị P1, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm như đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa.

[10] Về án phí và chi phí tố tụng:

- Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: do hủy bản án sơ thẩm nên sẽ được xem xét, giải quyết khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.

- Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo của anh Ngô Đức P, chị Nguyễn Thị P1 được chấp nhận nên anh P, chị P1 không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự. Xử:

  1. Chấp nhận kháng cáo của anh Ngô Đức P, chị Nguyễn Thị P1, huỷ bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 24/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Dũng (nay là Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang), tỉnh Bắc Giang. Chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
  2. Về án phí và chi phí tố tụng:
    • - Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm: sẽ được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, quyết định khi giải quyết sơ thẩm lại vụ án.
    • - Về án phí dân sự phúc thẩm: anh Ngô Đức P, chị Nguyễn Thị P1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả anh P 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0005360 ngày 15/10/2024; Hoàn trả chị P1 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0005361 ngày 15/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Dũng.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -TAND, Chi cục THADS cấp sơ thẩm;
  • - Cổng thông tin điện tử TANDTC;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hà Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/DS-PT ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự

  • Số bản án: 34/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp giao dịch dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger