|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2025/HS-ST Ngày 20-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn Thi
Ông Phạm Văn Dung
- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Ngọc Khanh - Thư ký Toà án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Vũ Thành Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Chu Đức T, sinh ngày 13 tháng 5 năm 1993 tại Hải Phòng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã A, huyện A (N là Tổ dân phố L, phường A, quận H), thành phố Hải Phòng; Chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã A, huyện A (N là Tổ dân phố T, phường A, quận H), thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Đức P và bà Trịnh Thị C; có vợ là Nguyễn Thị Quỳnh T1 và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ ngày 08/10/2024, tạm giam ngày 16/10/2024; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 30 phút, ngày 08/10/2024, tại Nhà nghỉ H ở thôn M, xã N, huyện A, thành phố Hải Phòng tổ công tác Công an xã N bắt quả tang Chu Đức T về hành vi cất giữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ trong mũ bảo hiểm T đang đội 01 túi nilon màu trắng kích thước 1,5x2cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng, T khai là ma tuý đá. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Chu Đức T không thu giữ được gì liên quan đến ma túy.
Tại Kết luận giám định số 1185/KL-KTHS(MT) ngày 14/10/2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,20 gam, loại: Methamphetamine (bút lục 38). Kết quả xét nghiệm nước tiểu xác định Chu Đức T dương tính với ma túy Methamphetamine.
Tại Cơ quan điều tra, Chu Đức T khai nhận: Khoảng 21 giờ, ngày 07/10/2024, T đi taxi từ xã T, huyện A đến Nhà nghỉ H, thuộc thôn M, xã N. Tại đây, T gặp anh Vũ Văn T2, sinh năm 1986, trú tại thôn Đ, xã A và một người đàn ông bạn của anh T2 (chưa rõ lai lịch), T hỏi mượn xe anh T2 để đi có việc nhưng anh T2 không có xe, anh T2 hỏi xe của người bạn cho T mượn. Sau đó, T điều khiển xe mô tô không rõ biển số đến khu vực siêu thị M (siêu thị M1 cũ) mua của một người đàn ông không quen biết 250.000 đồng được 01 túi ma túy đá, T giấu túi ma tuý vào bên trong mũ bảo hiểm đang đội rồi điều khiển xe mô tô về Nhà nghỉ H để trả xe cho bạn của anh T2. Sau khi trả xe xong, T đứng tại khu vực nhà xe của Nhà nghỉ thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Cáo trạng số 21/CT-VKSAD ngày 10 tháng 01 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân quận An Dương, thành phố Hải Phòng truy tố Chu Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Chu Đức T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên. Bị cáo nhận thức hình vi của mình là trái pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm được về với gia đình và xã hội.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận An Dương vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chu Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Chu Đức T từ 18 tháng đến 21 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói của mẫu vật, 01 mũ bảo hiểm màu đen. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định bị cáo có tội và tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với vật chứng thu giữ, với Kết luận giám định số 1185/KL-KTHS (MT) ngày 14/10/2024 và với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 08/10/2024, tại thôn M, xã N, huyện A, thành phố Hải Phòng (nay là tổ dân phố M, phường N, quận A), thành phố Hải Phòng, Chu Đức T bị bắt quả tang khi đang cất giữ trái phép 0,20 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy có khối lượng 0,20 gam loại Methamphetamine của bị cáo Chu Đức T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Loại tội phạm này đang có chiều hướng gia tăng, gây mất trật tự trị an xã hội và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác nên cần xét xử nghiêm để giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về nhân thân và hình phạt: Xét tính chất, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nên áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung. Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét tính chất hành vi phạm tội, hoàn cảnh của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau giám định là loại Nhà nước cấm lưu hành, 01 mũ bảo hiểm bị cáo dùng để cất giấu ma túy nên tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Chu Đức T.
Tuyên bố bị cáo Chu Đức T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Chu Đức T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo Chu Đức T tính từ ngày 08 tháng 10 năm 2024.
Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ mẫu vật được niêm phong trong 01 phong bì thư niêm phong số 1185MT/PC09 và 01 mũ bảo hiểm màu đen (Vật chứng có đặc điểm chi tiết theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15 tháng 01 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận An Dương, thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Chu Đức T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - Bị cáo; - Viện Kiểm sát nhân dân quận An Dương; - Viện Kiểm sát nhân dân TP. Hải Phòng; - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận An Dương; - Chi cục Thi hành án dân sự quận An Dương; - Trại Tạm giam Công an T.P Hải Phòng; - Tòa án nhân dân TP Hải Phòng; - Phòng PV 06, PC 10 Công an T.P Hải Phòng; - Sở Tư pháp T.P Hải Phòng; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Liên |
Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 34/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chu Đức Tùng
