TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2025/HS-ST
Ngày 14 tháng 02 năm 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Thắng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Vũ Phương Liên
- Ông Trần Ngọc Thịnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai – Thư ký Toà án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1963; Nơi ĐKHKTT: Số B N, phường N, quận L, Thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện nay: Số I ngõ A N, phường B, quận L, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T; Con bà Vũ Thị T1; Có chồng là Lương Văn D và 02 con, con lớn sinh năm 1984, con nhỏ sinh năm 1992; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 25/5/2006, bị Công an Thành phố H xử phạt hành chính về hành vi buôn bán hàng cấm (Quyết định xử phạt số 07 ngày 25/5/2006, phạt tiền 350.000 đồng).
Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh; Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 30 phút ngày 17/12/2024, tổ công tác Đội Cảnh sát kinh tế - Công an quận H trong quá trình làm nhiệm vụ tại khu vực đường C, H, Hà Nội phát hiện Nguyễn Thị Kim L xách 01 (một) túi nilong màu đen đứng trước cửa khu vực cửa khẩu P, phường P, H, Hà Nội có biểu hiện nghi vấn đã tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện bên trong túi nilong màu đen có 250 (hai trăm năm mươi) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Caster có in chữ nước ngoài. Tại thời điểm kiểm tra, L khai nhận đây là 250 (hai trăm năm mươi) bao thuốc lá điếu bao thuốc lá điếu nhập lậu của L đang định mang đi rao bán nhưng chưa kịp bán thì bị cơ quan công an kiểm tra phát hiện bắt giữ. Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ tang vật và đưa đương sự Nguyễn Thị Kim L về trụ sở để xác minh làm rõ.Thu giữ của Nguyễn Thị Kim L: (BL: 23, 24)+ 01 (một) túi nilong màu đen 250 (hai trăm năm) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Caster 5;Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị Kim L: Tại địa chỉ số I ngõ A N, phường B, quận L, Hà Nội phát hiện thu giữ tổng số 1320 bao thuốc lá nhãn hiệu các loại đều do nước ngoài sản xuất, không có hóa đơn chứng từ chứng minh nguồn gốc gồm: (BL: 28 -30),
- + 800 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Winston;
- + 180 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Caster 5;
- + 100 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Raison;
- + 100 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Esse Change;
- + 40 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu 555;
- + 100 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Esse Gold;
Tại Bản kết luận giám định số 8608/KL-KTHS ngày 18/12/2024 của Phòng K - Công an T kết luận: (BL: 32)
- - Tang vật thu giữ ban đầu gồm: 250 bao thuốc lá (mỗi bao cóp 20 điếu) nhãn hiệu CASTER 5 đều là thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất.
- - Tang vật khi khám xét khẩn cấp: Toàn bộ 1320 bao thuốc lá cáccác loại nhãn hiệu (mỗi bao có 20 điếu) đều là thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất, cụ thể:
- + 800 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Winston;
- + 180 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Caster 5;
- + 100 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Raison;
- + 100 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Esse Change;
- + 40 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu 555;
- + 100 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Esse Gold;
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Kim L khai nhận: Bản thân L làm công việc tự do. Từ khoảng đầu năm 2024 đến nay, do kinh tế gặp khó khăn nên L đã thu mua các loại thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất để bán kiếm lời. Lan mua gom các loại thuốc lá điếu nhãn hiệu 555, C, E, W... nhập lậu trôi nổi trên thị
trường với giá rẻ của những người không quen biết ở khu vực phố N, H, Hà Nội và khu tập thể hàng không ở phố N, L, Hà Nội. Sau khi mua được thuốc lá nhập lậu, L mang về nhà ở tại số I ngõ A N, phường B, L, Hà Nội để cất giấu. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 17/12/2024, do hàng bán chậm nên L lấy 250 bao thuốc lá nhãn hiệu Caster nhập lậu cho vào 01 túi nilong màu đen, đi xe ôm đến khu vực P, H, Hà Nội rồi xuống xe để đi bộ vào khu vực phố N để chào bán kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị cơ quan công an kiểm tra, phát hiện như đã nêu trên. Ngoài ra, khi Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của L tại địa chỉ số I ngõ A N, phường B, L, Hà Nội còn phát hiện thu giữ 1320 bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại 555, C, Esse C, Winston...Toàn bộ 1570 bao thuốc lá trên đều không có hóa đơn chứng từ chứng minh nguồn gốc, L thu mua trôi nổi trên thị trường rồi mang về cất giấu tại nhà để mang đi chào bán. L đã bán lẻ được khoảng 500 – 700 bao thuốc lá, hưởng lợi khoảng 5.000.000 đồng, số tiền này L dùng để chữa bệnh và chi tiêu sinh hoạt gia đình. L khai chỉ thực hiện hành vi một mình, không có ai tham gia cùng, L không sử dụng điện thoại do không thông thạo công nghệ. (BL: 46-59)
Về đối tượng bán thuốc lá điếu nhập lậu cho L: L trình bày mua của những người không quen biết tại khu vực tập thể hàng không, phố N, L, Hà Nội. L không sử dụng điện thoại do không biết về công nghệ, không biết thông tin tên tuổi, địa chỉ, số điện thoại của những người này nên Cơ quan điều tra nên không có cơ sở để xác minh truy tìm. (BL: 48-51)
Đối tượng mua thuốc lá của L: L đã bán cho một vài khách vãng lai (không rõ nhân thân, lai lịch), ngày 17/12/2024, do L đang đi tìm khách mua nhưng chưa bán được thì bị bắt giữ nên cơ quan điều tra nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh truy tìm. (BL: 46-59)
Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 13/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố Nguyễn Thị Kim L về tội "Buôn bán hàng cấm" theo điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
- * Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim L mức án từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng. Giao bị cáo cho UBND phường B, quận L, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 4 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
- * Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy toàn bộ 1290 (một nghìn hai trăm chín mươi) bao thuốc lá điếu các loại sau khi phòng PC09 – Công an Thành phố H thu mẫu được niêm phong vào 02 (hai) thùng cattong và 01 (một) túi nilong màu đen có chữ ký xác nhận của giám định viên, cán bộ niêm phong và đương sự Nguyễn Thị Kim L.
- + Truy thu buộc bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 5.000.000 đồng để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước;
- * Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 135, 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra - Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thị Kim L đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, vật chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án, từ đó có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 17/12/2024, tại khu vực cửa khẩu P, quận H, Thành phố Hà Nội, Nguyễn Thị Kim L đang thực hiện hành vi cất giấu nhằm mục đích bán 250 (hai trăm năm mươi) bao thuốc lá điếu bên ngoài ghi dòng chữ Caster 5 do nước ngoài sản xuất thì bị phát hiện bắt giữ cùng tang vật. Ngoài ra, khám xét khẩn cấp tại số I ngõ A N, phường B, quận L, Thành phố Hà Nội còn thu giữ của Nguyễn Thị Kim L 1320 bao thuốc lá các loại nhãn hiệu (mỗi bao có 20 điếu) đều là thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất, không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc. Tổng số bao thuốc lá điếu nhập lậu Nguyễn Thị Kim L buôn bán là 1570 bao.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Kim L đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015. Cáo
trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự quản lý kinh tế. Bị cáo nhận thức rõ việc buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu không được pháp luật cho phép nhưng vì hám lợi mà thực hiện, nhân thân bị cáo từng bị xử lý hành chính về hành vi buôn bán hàng cấm, do đó cần phải xử phạt bị cáo một hình phạt tù nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời đáp ứng yêu cầu phòng ngừa tội phạm nói chung.
Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Tòa không áp dụng hình phạt tiền bổ sung.
[3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo bị truy tố theo điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015, ngoài ra không có tình tiết tăng nặng nào theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy, tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đã có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Bị cáo có bố đẻ là thương binh, lần đầu bị đưa ra xét xử là tình tiết để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét bị cáo là người cao tuổi, bản thân có nhiều bệnh nền; số lượng thuốc lá bị cáo buôn bán không lớn; mặc dù nhân thân bị cáo từng bị xử phạt hành chính về hành vi buôn bán hàng cấm nhưng đã từ gần 20 năm trước, sau khi cân nhắc tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo với xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo dưới sự giám sát của gia đình và chính quyền địa phương như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm là phù hợp với quy định của pháp luật và không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
[5] Về các biện pháp tư pháp: Xét thấy, đối với số thuốc lá điếu bị thu giữ là mặt hàng nhà nước cấm buôn bán cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 5.000.000 đồng thu lợi bất chính cần buộc bị cáo phải nộp lại để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[6] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định;
Vì các lẽ trên!
Quyết định:
[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kim L phạm tội “Buôn bán hàng cấm”;
[2] Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim L 12 (Mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Thị Kim L cho Ủy ban nhân dân phường B, quận L, Thành phố Hà Nội để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
[3] Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[4] Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
- + Truy thu buộc bị cáo Nguyễn Thị Kim L phải nộp lại số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng thu lợi bất chính để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- + Tịch thu tiêu hủy toàn bộ 1290 (một nghìn hai trăm chín mươi) bao thuốc lá điếu các loại sau khi phòng PC09 – Công an Thành phố H thu mẫu được niêm phong vào 02 (hai) thùng cattong và 01 (một) túi nilong màu đen có chữ ký xác nhận của giám định viên, cán bộ niêm phong và đương sự Nguyễn Thị Kim L, cụ thể:
- - 250 (hai trăm năm mươi) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Caster 5 (PC09 thu mẫu giám định 50 bao còn lại 200 bao);
- - 800 (tám trăm) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Winston (PC09 thu mẫu giám định 100 bao còn lại 700 bao);
- - 180 (một trăm tám mươi) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Caster 5 (PC09 thu mẫu giám định 20 bao còn lại 160 bao);
- - 100 (một trăm) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Raison (PC09 thu mẫu giám định 30 bao còn lại 70 bao);
- - 100 (một trăm) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Esse Change (PC09 thu mẫu giám định 30 bao còn lại 70 bao);
- - 40 (bốn mươi) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu 555 (PC09 thu mẫu giám định 20 bao còn lại 20 bao);
- - 100 (một trăm) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Esse Gold (PC09 thu mẫu giám định 30 bao còn lại 70 bao);
(Theo Bản Kết luận giám định số 8608/KL-KTHS ngày 18/12/2024 của Phòng K - Công an T và Biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 17/12/2024).
Tại thời điểm bàn giao vật chứng sang Cơ quan Thi hành án dân sự quận H không mở ra kiểm đếm số lượng thuốc lá điếu bên trong và có dán bổ sung giấy niêm phong có chữ ký được đóng dấu của Điều tra viên Nhữ Đình T2 vào 02 thùng các tông và 01 túi nilong màu đen đựng vật chứng là thuốc lá trên.
Số vật chứng trên hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hoàn Kiếm theo biên bản giao nhận ngày 20/01/2025.
[5] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Kim L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Văn Thắng |
Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM về buôn bán hàng cấm
- Số bản án: 34/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Kim L - Buôn bán hàng cấm
