|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2025/HS-ST
Ngày: 14 - 02 - 2025
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Duy Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Ân và ông Vũ Xuân Tuất.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Trọng Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Tằng C (Tên gọi khác: Bói T), sinh năm 1990 tại Đồng Nai.
Giới tính: Nam. HKTT: Ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Nơi cư trú: Không ổn định. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: H. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 11/12. Nghề nghiệp: Không. Con ông Tằng A P và bà Vòng Sám M. C sống như vợ chồng với chị Lưu Bích N, sinh năm 1991 (không đăng ký kết hôn) và có 02 người con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2016.
- Tiền án: Không có.
- Tiền sự: Ngày 23/02/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 17/2023/QĐ – TA, chấp hành xong ngày 27/03/2024.
Bị giam giữ từ ngày 15/09/2024 đến nay.
Bị hại: Anh Mìu Tàu C1, sinh năm 1989 và chị Trần Thụy S, sinh năm 1983. Địa chỉ cư trú: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Người làm chứng:
- + Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1991.
- + Chị Trần Thị Ngọc B, sinh năm 1978.
(Bị cáo có mặt, còn lại đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 13/09/2024, anh Mìu T2 Cón điều khiển xe môtô nhãn hiệu Yamaha Luvisas FI, màu xám, biển số 60B8-73054 đến tiệm tạp hóa thuộc tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, để mua đồ ăn, khi đi vào tiệm anh C1 để chìa khóa trên xe môtô. Khoảng 15 giờ 15 phút cùng ngày, Tằng C2 Vừng đi đến trước tiệm T3 phát hiện xe môtô nhãn hiệu Yamaha Luvisas FI, màu xám, biển số 60B8-73054 không có người trông coi nên đã lén lút trộm cắp xe mô tô này rồi điều khiển xe đến tiệm Internet thuộc ấp S, xã C, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Tại đây, V đã lấy trộm 01 biển số 60B7-621.49 gắn trên xe môtô nhãn hiệu Shmode của anh Võ Nguyễn Hữu H1, sau đó tháo biển số 60B8-730.54 trên xe vừa trộm cắp được vứt dưới con suối bên đường thuộc xã C, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Vừng về phòng trọ gắn biển số 60B7-621.49 lên xe Yamaha Luvias FI, màu xám và lấy giấy nhám trà mờ số khung để tránh bị phát hiện. Sau đó điều khiển xe đi tìm nơi tiêu thụ nhưng không được nên V chạy xe đến 01 tiệm Internet ở khu vực phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để chơi game và ngủ lại. Đến 07 giờ 30 phút ngày 14/9/2024, V điều khiển xe đã trộm được đến tiệm S1, địa chỉ đường C, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để bán nhưng chưa bán được thì gặp lực lượng Công an kiểm tra. Do V không xuất trình được giấy tờ chứng minh nguồn gốc xe, Công an phường L đã mời về trụ sở làm việc. Quá trình làm việc, V tự nguyện đầu thú, khai báo hành vi trộm cắp tài sản là xe mô tô hiệu Yamaha Luvias FI, màu xám, biển số 60B8-73054. Công an phường L đã lập hồ sơ ban đầu, chuyển đến Công an xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai để điều tra theo thẩm quyền.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 102/KL- HĐĐGTS ngày 20/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Luvias FI, màu xám, biển số 60B8-730.54, số máy ISK1031712, số khung RLCL1SK10FY03172, xe đã qua sử dụng có trị giá là 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng).
- Vật chứng thu giữ:
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Luvias FI, màu xám, biển số 60B8-730.54, số máy ISK1031712, số khung RLCL1SK10FY03172.
- + 01 biển số 60B7-621.49.
Tại bản Cáo trạng số: 32/CT-VKS-TB ngày 06 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Tằng Cóng V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Tằng Cóng V.
- + Áp dụng các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- + Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- + Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Tằng Cóng V từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
- + Xử lý vật chứng:
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Luvias FI, màu xám, biển số 60B8-730.54, số máy ISK1031712, số khung RLCL1SK10FY03172 do chị Trần Thụy S là vợ anh Mìu T2 Cón đứng tên chủ sở hữu nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.
Đối với 01 biển số 60B7-621.49 do chị Nguyễn Thị N1 đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe, chị N1 cho anh V1 Nguyễn Hữu H1 là con chị N1 mượn xe để sử dụng, khi bị mất chị N1 là chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị N1.
- + Về trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại: Anh Mìu T2 Cón và chị Trần Thụy S đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu gì về dân sự nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- + Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, cáo trạng truy tố đúng người, đúng tội, không có oan sai, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng số: 32/CT-VKS-TB ngày 06 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú/đầu thú đề ngày 14/09/2024, lời khai của bị hại, Kết luận định giá tài sản số 102/KL- HĐĐGTS ngày 20/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án.
Có đủ căn cứ kết luận: Ngày 13/09/2024 tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Tằng C đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Luvias Fi, màu xám, biển số 60B8-73054 của anh M1 Tàu Còn, chị Trần Thụy S có trị giá là 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng).
Hành vi nêu trên của bị cáo Tằng Cóng V đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của anh M1 Tàu Còn, chị Trần Thụy S được pháp luật công nhận và bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, bị đưa đi cai nghiện bắt buộc nhiều lần, không lấy đó làm bài học cảnh tỉnh, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó cần xử phạt bị cáo một mức án đủ nghiêm nhằm cải tạo và giáo dục bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật, đồng thời còn răn đe và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo đầu thú khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Luvias FI, màu xám, biển số 60B8-730.54, số máy ISK1031712, số khung RLCL1SK10FY03172 của chị Trần Thụy S, anh Mìu T2 Cón và 01 (một) biển số 60B7-621.49 của chị Nguyễn Thị N1 là tài sản hợp pháp nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật.
[6] Về biện pháp tư pháp (Trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại): Anh Mìu T2 Cón và chị Trần Thụy S đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[7] Đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[8] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử phù hợp với quy định của pháp luật.
[9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Tằng Cóng V (Tên gọi khác: Bói T) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Tằng Cóng V (B) 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/09/2024.
2. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Tằng Cóng V (B) phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày; người có mặt tính từ ngày tuyên án, người vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Duy Mạnh |
Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 34/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng số: 32/CT-VKS-TB ngày 06 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú/đầu thú đề ngày 14/09/2024, lời khai của bị hại, Kết luận định giá tài sản số 102/KL- HĐĐGTS ngày 20/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Trảng Bom, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ kết luận: Ngày 13/09/2024 tại ấp Tân Thành, xã Thanh Bình, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Tằng Cóng Vừng đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Luvias Fi, màu xám, biển số 60B8-73054 của anh Mìu Tàu Còn, chị Trần Thụy Sang có trị giá là 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng). Hành vi nêu trên của bị cáo Tằng Cóng Vừng đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
