Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ ĐIỆN BÀN

TỈNH QUẢNG NAM

Bản án số: 34/2025/HNGĐ-ST

Ngày 07/02/2025.

V/v: “Ly hôn, tranh chấp con chung”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN - TỈNH QUẢNG NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuân
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • - Ông Bùi Tấn Sinh
    • - Bà Lương Thị Kim Anh
  • Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thu Thuận - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên toà: Ông Trương Vui - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 272/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp ly hôn và con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 351/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:

  • + Nguyên đơn: Bà Phạm Thị M, sinh năm: 1990; nơi thường trú: Thôn N, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; địa chỉ liên hệ: Thôn N, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam (có mặt).
  • + Bị đơn: Ông Hồ D, sinh năm: 1984; địa chỉ: thôn N, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 24/10/2024 và các lời khai có trong vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị M trình bày:

Bà Phạm Thị M và ông Hồ D kết hôn vào ngày 23/02/2011, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Kết hôn trên cơ sở tự nguyện và được sự đồng ý của hai bên gia đình. Trong quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vả dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân gần 2 năm nay. Nay xét thấy tình cảm không còn, bà M yêu cầu được ly hôn ông Hồ Dưỡng.

Về con chung: Có 01 con chung gồm Hồ Phạm Anh D1, sinh ngày 17/6/2011. Khi ly hôn, bà M có nguyện vọng nuôi con chung, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn, ông Hồ D đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc nên không có lời trình bày.

Đại diện VKSND thị xã Điện Bàn phát biểu quan điểm giải quyết vụ án.

Quá trình Toà án cấp sơ thẩm đã thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng quy định của BLTTDS. Nguyên đơn chấp hành tốt quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án Viện kiểm sát cho rằng: việc mâu thuẫn của các đương sự đã trầm trọng nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị M, cho bà M được ly hôn ông Hồ D, về con chung đề nghị giao con chung là Hồ Phạm Anh D1, sinh ngày 17/6/2011 cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng; bà M không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung, ông D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Phạm Thị M yêu cầu ly hôn và giải quyết con chung đối với ông Hồ D, cư trú tại thôn N, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Hồ D đã được triệu tập hợp lệ đến phiên toà xét xử lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 của BLTTDS, Toà án xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Về nội dung vụ án: Bà Phạm Thị M và ông Hồ D có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vả dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân 2 năm nay. Bà thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên cương quyết xin ly hôn với ông D.

Ông Hồ D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu của nguyên đơn chứng tỏ ông là người không coi trọng cuộc hôn nhân của mình. Qua xác minh tại chính quyền địa phương thì nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng chính quyền địa phương không rõ. Xét thấy tình cảm của bà M đối với ông D không còn, hiện tại vợ chồng không còn sống chung chứng tỏ mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình xử cho bà Phạm Thị M được ly hôn ông Hồ D là phù hợp.

[3] Về con chung: Có 01 con chung tên Hồ Phạm Anh D1, sinh ngày 17/6/2011. Khi ly hôn, bà M có nguyện vọng được nuôi con chung.

Xét yêu cầu nuôi con của các đương sự thì thấy: Hiện con chung có nguyện vọng sống cùng mẹ, bị đơn ông D được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc, không có ý kiến trình bày nên không thể xem xét nguyện vọng của ông D. Con chung còn nhỏ nên cần có sự chăm sóc, nuôi dưỡng của người mẹ. Do đó, để ổn định cuộc sống, đảm bảo tốt nhất về mọi mặt cho con chung, HĐXX thống nhất giao các con Hồ Phạm Anh D1, sinh ngày 17/6/2011 cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Phạm Thị M không yêu cầu ông Hồ D cấp dưỡng nuôi con chung.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[5] Về án phí: Bà Phạm Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 54, Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật HN&GĐ; Luật phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Phạm Thị M đối với ông Hồ D về việc “Ly hôn, tranh chấp về con chung”.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phạm Thị M được ly hôn với ông Hồ Dưỡng.
  2. Về con chung: có 01 con chung.

Giao con Hồ Phạm Anh D1, sinh ngày 17/6/2011 cho bà Phạm Thị M trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Phạm Thị M không yêu cầu ông Hồ D cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Hồ D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

  1. Về án phí: Bà Phạm Thị M phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu số 0014848, ngày 24/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Điện Bàn.
  1. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND thị xã Điện Bàn;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS thị xã Điện Bàn;
  • - UBND xã Điện hồng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Xuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 07/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN - TỈNH QUẢNG NAM về ly hôn, tranh chấp con chung

  • Số bản án: 34/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN - TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Pham Thi M - Ho D
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger