Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————

Bản án số: 34/2025/HNGĐ-ST

Ngày 06-02-2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Văn Lực;

2. Ông Nguyễn Văn Hoàn.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Việt Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 518/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 271/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Ngọc D, sinh năm 1988. Thường trú: số B, đường số A, Trung tâm hành chính, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Địa chỉ liên hệ: 12.18, Khu C, B, đường P, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc B, sinh năm 1983. Thường trú: Tổ B, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nơi ở: căn hộ 12.18 Khu C, B, đường P, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện đề ngày 12 tháng 9 năm 2024, lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Phan Thị Ngọc D trình bày:

Bà Phan Thị Ngọc D và ông Nguyễn Quốc B kết hôn vào năm 2013 có đăng ký kết hôn hợp pháp tại Uỷ ban nhân dân xã (nay là phường) T, huyện (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn ngày 05/4/2013. Trong thời kỳ hôn nhân hai vợ chồng có 01 người con chung là cháu Nguyễn Phan A, sinh ngày 17/4/2013. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng và con đang sống chung với nhau tại địa chỉ: căn hộ A, Khu C, B, đường P, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương và không xảy ra mâu thuẫn. Tuy nhiên đến tháng 01/2023 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, ông B thường xuyên không ở nhà với vợ con, không quan tâm đến cuộc sống của vợ chồng. Nay, bà D xác định không còn tình cảm gì với ông B, hai vợ chồng không còn quan hệ vợ chồng, đã sống ly thân khoảng gần 02 năm. Sau nhiều lần hoà giải nhưng không thành và đồng thời bà D nhận thấy đời sống hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết :

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Ngọc D yêu cầu được ly hôn ông Nguyễn Quốc B.
  2. Về con chung: Bà Phan Thị Ngọc D yêu cầu ông Nguyễn Quốc B trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phan A, sinh ngày 17/4/2013. Bà Phan Thị Ngọc D không phải cấp dưỡng nuôi con chung cháu Nguyễn Phan Anh .
  3. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã triệu tập bị đơn ông Nguyễn Quốc B hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định; không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Quan hệ pháp luật là ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa nhận thấy mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa bà Phan Thị Ngọc D và ông Nguyễn Quốc B là trầm trọng, không hàn gắn đoàn tụ được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị Ngọc D. Về con chung: đề nghị giao cháu Nguyễn Phan A, sinh ngày 17/4/2013 cho ông Nguyễn Quốc B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà Phan Thị Ngọc D không phải cấp dưỡng nuôi con chung cháu Nguyễn Phan Anh . Về tài sản chung, nợ chung: các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Phan Thị Ngọc D khởi kiện tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn ông Nguyễn Quốc B, sinh năm 1984, nơi ở hiện nay tại căn hộ A Khu C, B, đường P, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương nên căn cứ theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương; quan hệ pháp luật là “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Phan Thị Ngọc D vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Quốc B vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn bà Phan Thị Ngọc D với bị đơn ông Nguyễn Quốc B tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã (nay là phường) T, huyện (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn ngày 05/4/2013 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo lời trình bày của bà D trong thời gian chung sống giữa bà D và ông B thời gian đầu hạnh phúc, đến tháng 01/2023 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không còn sự tôn trọng lẫn nhau, tình trạng hôn nhân không còn hòa thuận, hạnh phúc. Cuộc sống thường xảy ra mâu thuẫn giữa hai bên và không thể hàn gắn lại được. Khi mâu thuẫn vợ chồng xảy ra thì gia đình hai bên cũng đã có những hàn gắn để giữ hạnh phúc của hai vợ chồng nhưng đều không có kết quả. Hai vợ chồng đã sống ly thân khoảng gần 02 năm đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập bị đơn ông Nguyễn Quốc B tham gia tố tụng nhưng ông B vắng mặt không rõ lý do, không có ý kiến trình bày trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Việc ông B vắng mặt không có lý do là tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng, nghĩa vụ chứng minh của mình. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà D và ông B là thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, bà D yêu cầu được ly hôn với ông B là có căn cứ chấp nhận.

[5] Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Phan A, sinh ngày 17/4/2013. Bà D yêu cầu ông Nguyễn Quốc B trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phan A, sinh ngày 17/4/2013. Bà Phan Thị Ngọc D không phải cấp dưỡng nuôi con chung cháu Nguyễn Phan Anh . Xét thấy, cháu Phan A đã đủ 07 tuổi có nguyện vọng sống chung với ông B. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao cháu Phan A cho ông B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Bà D không có nghĩa vụ phải cấp dưỡng nuôi con chung cháu Nguyễn Phan Anh .

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[7] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

[8] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Ngọc D đối với ông Nguyễn Quốc B về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Ngọc D được ly hôn với ông Nguyễn Quốc B (Giấy chứng nhận kết hôn do Uỷ ban nhân dân xã (nay là phường) T, huyện (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương cấp ngày 05/4/2013).
    • - Về con chung: Giao con chung cháu Nguyễn Phan A, sinh ngày 17/4/2013 cho ông Nguyễn Quốc B trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Phan Thị Ngọc D không phải cấp dưỡng nuôi con chung cháu Nguyễn Phan Anh .

    Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

    • - Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
  2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Phan Thị Ngọc D phải chịu 300.000 đồng được khấu trừ 300.000 đồng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001769 ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01);
  • - Các đương sự (02);
  • - UBND phường Thới Hoà, thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương (01);
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HNGĐ-ST ngày 06/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 34/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con giữa nguyên đơn bà Phan Thị Ngọc D với bị đơn ông Nguyễn Quốc B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger