Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HOÁ

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HS-ST

Ngày: 16-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Liên

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Lê Thị Oanh
  • 2. Ông Lê Văn Luận

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mơ - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Tạ Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 41/2024/HS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

Bùi Văn H - Sinh năm 1984; Nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Số thẻ căn cước công dân: [...] cấp ngày 11 tháng 3 năm 2024, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về trật tự xã hội; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Bùi Đắc Đ, sinh năm 1922 (đã chết) và bà Bùi Thị H1, sinh năm 1949; có vợ: Phan Thị H2 và 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Chưa; Tạm giữ: 22/8/2024; Tạm giam: 31/8/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm: 1956 (chết).

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bị hại (con trai ông Nguyễn Hữu T): Anh Nguyễn Hữu H3, sinh năm: 1982; địa chỉ: Thôn C, xã T, TP ., tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1958 (vợ ông T); địa chỉ: Thôn C, xã T, TP., tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt).

Bị đơn dân sự: Công ty TNHH Đ2; Địa chỉ: Xóm B, phường Q, TP., tỉnh Thanh Hóa.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đoàn Văn T1 – Giám đốc (Vắng mặt).

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 21/8/2024, Bùi Văn H điều khiển xe ô tô tải, BKS 36H-027.24 của Công ty TNHH Đ2 (H là nhân viên công ty) chở đất từ xã X, huyện T đến phường L, thành phố T đổ đất công trình. Khi đi đến đoạn đường V, phường Đ, thành phố T (gần ngã 5 Đ). Quan sát thấy đèn tín hiệu màu xanh còn 10 giây nên H tăng ga để vượt xe mô tô BKS 36B2-901.65 đi phía trước, cùng chiều do ông Nguyễn Hữu T (sinh năm 1956, trú tại Thôn C, phường T, thành phố T) điều khiển. Lúc này do có xe ô tô chạy ngược chiều trong đoạn đường vượt nên H đánh lái sang phải để tránh thì va chạm với xe mô tô BKS 36B2-901.65 của ông T điều khiển, hậu quả ông T chết tại chỗ. Sau khi gây tai nạn Bùi Văn H lái xe bỏ chạy khỏi hiện trường để trốn tránh trách nhiệm. Đến 23 giờ 25 phút cùng ngày, do nhận thức hành vi của mình không thể trốn tránh pháp luật nên Bùi Văn H đã đến Công an thành phố T đầu thú, khai báo hành vi phạm tội của mình.

Sau khi xảy ra vụ việc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường; phương tiện và khám nghiệm tử thi, thể hiện như sau:

Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông xảy ra tại Km 01+100 đường V, phường Đ, thành phố T (đoạn phía Tây Nam ngã 5 Đ). Đường Vành đai tây dành cho hai chiều phương tiện lưu thông chung, mặt đường được rải nhựa tương đối bằng phẳng, có bề rộng 11m00, hệ thống vạch kẻ đường bị mờ.

Mở rộng hiện trường về phía Tây 100m: cách hiện trường vụ tai nạn giao thông về hướng Tây 50m, tại vị trí lề đường bên phải đường Vành đai phía Tây theo hướng phường Đ đi Ngã 5 Đ được đặt hệ thống biển báo " Đi chậm " có phạm vi hiệu lực 300m; biển báo W.224 " Đường người đi bộ cắt ngang".

Thống nhất: Lấy cột đèn tín hiệu giao thông đặt tại lề đường bên phải đường Vành đai phía Tây theo hướng phường Đ đi Ngã 5 Đ (Cột đèn phía Tây Nam ngã 5 Đ) làm điểm mốc (ký hiệu A). Lấy mép đường bên phải đường Vành đai phía Tây hướng Đ đi ngã 5 Đình Hương làm mép chuẩn (ký hiệu là B).

Vị trí dấu vết, phương tiện, đồ vật liên quan đến vụ tai nạn giao thông để lại hiện trường được đánh số, mô tả và ghi nhận như sau:

  1. Vết (1) cách (A) về hướng T 20m00, cách (B) về hướng Bắc 1m50 là vị trí đầu vết cà trượt không liên tục, không rõ hình kích thước 7m00 x 0m02, vết có chiều T - Đ, cuối vết tương ứng với vị trí giá để chân trước bên trái xe mô tô gắn BKS 36B2-901.65 trong tư thế ngã trái trên đường.
  2. Vị trí xe mô tô gắn BKS 36B2-901.65 đổ ngã trái trên mặt đường, trong tư thế đầu xe quay hướng Đ1, đuôi xe quay hướng Tây. T2 trục bánh trước xe mô tô cách (B) về hướng Nam 0m05, tâm trục bánh sau xe mô tô cách (B) về hướng Bắc 0m10.

2

  1. Cách (B) về hướng Bắc 1m90, cách đầu vết (1) về hướng Đông 6m00 là vị trí đầu nạn nhân xác định đã tử vong là nam giới, chết trong tư thế nằm sấp, đầu quay hướng Đông, hai chân co quay hướng Tây, hai tay co hướng về phía Nam. Tương ứng vị trí đầu nạn nhân là đám chất màu nâu đỏ nghi máu, dạng bệt, chất màu trăng đục, nghi thoát tổ chức não ra ngoài.

Cách vị trí đầu nạn nhân về hướng Đông 2m00, trên mặt đường xuất hiện vết in không liên tục có hình vân lốp (khoảng cách giữa các vân là 1.5cm), vết có dạng song song (dạng 02 hàng bánh xe) kích thước 60cm, khoảng cách giữa hai đường song song là 11cm, bề mặt vết in bám dính chất màu nâu đỏ, nghi máu, vết có xu hướng lặp lại và nhạt dần về phía Đông.

Kết luận giám định tử thi của Phòng K1 Công an tỉnh T xác định: Các vết dập, rách tổ chức da, cơ, xây xước da, bầm tụ máu vùng: Đầu, mặt, cổ, ngực, bụng, vai, lưng, tứ chi. Gẫy sập toàn bộ hệ thống xương lồng ngực. Dập, rách, tụ máu diện rộng tổ chức da, cơ vùng đầu, mặt. Gãy, vỡ xương hộp sọ, hệ thống xương hàm mặt. Rách màng cứng. Tổ chức não dập, thoát ra ngoài. Nguyên nhân chết của ông Nguyễn Hữu T do đa chấn thương.

Kết luận giám định dấu vết để lại trên phương tiện giaổ thống cữa phống kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T xác định:

  • + Va chạm giữa xe ô tô biển số 36H-027.24 với xe mô tô biển số 36B2-901.65:
    • - Điểm va chạm đầu tiên: Mặt trước ngoài phần sau bậc lên xuống bên phải đầu xe ô tô biển số 36H-027.24 (ảnh 5) với mặt sau ngoài tay nắm bên trái xe mô tô biển số 36B2-901.56 (ảnh 28).
    • - Tại thời điểm va chạm, xe ô tô biển số 36H-027.24 ở phía bên trái, chuyển động cùng chiều và có vận tốc lớn hơn so với xe mô tô biển số 36B2-901.65.
    • - Vị trí va chạm nằm trước đầu vết trượt (1) được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, trên chiều đường theo hướng từ tây sang đông.
  • + Va chạm giữa xe ô tô biển số 36H-027.24 với nạn nhận Nguyễn Hữu T: Các vết tỷ trượt, bề mặt in các vân (dạng vân vải) tại mặt trước ngoài phần sau bậc lên xuống bên phải đầu xe, mặt trước ngoài phần sau chắn bùn hàng lốp trước bên phải, mặt ngoài bầu ống xả, má ngoài hàng lốp thứ hai bên phải (tương ứng cuối hàng chữ "LUHOOD"), má ngoài lốp ngoài hàng lốp thứ ba bên phải (tương ứng đầu hàng chữ số "12.00 R20") xe ô tô biển số 36H-027.24 (ảnh 12 đến 19 phù hợp do va chạm với nhạn nhân Nguyễn Hữu T tạo nên. Quá trình điều tra, Bùi Văn Hoàn thành K khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập.

Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ:

  • + 01 xe ô tô tải, BKS 36H-027.24 của Công ty TNHH Đ2; 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C do Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 14/6/2024 cho Bùi Văn H.
  • + 01 xe mô tô BKS 36B2-901.65; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe; 01 Giấy phép lái xe hạng A1 của ông Nguyễn Hữu T;

Đối với 01 xe ô tô tải, BKS 36H-027.24 và 01 xe mô tô BKS 36B2-901.65 kèm theo 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe; 01 Giấy phép lái xe hạng A1 của ông Nguyễn Hữu T, Cơ quan điều tra đã trả lại cho Công ty Đ2 và đại diện gia đình bị hại. Đối với 01 Giấy phép lái xe của Bùi Văn H chuyển kèm theo hồ sơ vụ án. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại số tiền 200.000.000 đồng, đại diện gia đình bị hại không yêu cầu gì về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

3

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung của bản cáo trạng và kết luận của Cơ quan CSĐT Công an thành phố T. Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền cho bị hại, bị đơn dân sự vắng mặt nhưng đã có đầy đủ lời khai. Người đại diện hợp pháp cho bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và phần thường bồi dân sự đã giải quyết xong nên không yêu cầu giải quyết.

Cáo trạng số 326/CT-VKS ngày 13/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Bùi Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã làm rõ các căn cứ phạm tội, trách nhiệm hình sự (TNHS) của bị cáo, trong phần luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung của bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của BLHS đề nghị xử phạt Bùi Văn H từ 42 đến 48 tháng tù. Về phần dân sự: Công nhận phần dân sự đã giải quyết xong. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng xin xem xét giảm nhẹ TNHS.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có khiếu nại gì, Hội đồng xét xử tiến hành theo thủ tục chung.

[2]. Các căn cứ định tội đối với bị cáo: Trên cơ sở lời khai của bị cáo tại phiên tòa và lời khai trước đây bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra, sau khi xem xét nội dung biên bản kiểm tra hiện trường, kết quả giám định, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng HĐXX nhận thấy:

Hồi 15 giờ ngày 21/8/2024, Bùi Văn H có giấy phép lái xe hợp lệ (hạng C) điều khiển xe ô tô, loại xe bồn, BKS: 36H-027.24 chạy trên đường V, phường Đ, thành phố T (gần ngã 5 Đ), do vượt xe mô tô di chuyển cùng chiều, trong đoạn đường có xe ô tô chạy ngược chiều (trường hợp không được phép vượt) nên đã va chạm với xe mô tô BKS: 36B2-901.65 do ông Nguyễn Hữu T điều

4

khiển. Hậu quả làm ông T chết tại chỗ, do: Đa chấn thương. Sau khi gây tai nạn Bùi Văn H lái xe bỏ chạy khỏi hiện trường để trốn tránh trách nhiệm.

Như vậy, hành vi của Bùi Văn H đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 của BLHS.

[3] Tính chất vụ án: Bị cáo Bùi Văn H có giấy phép lái xe hạng C, điều khiển xe ô tô tải là nguồn nguy hiểm cao độ, khi chuyển hướng thiếu chú ý quan sát, di chuyển xe trong trường hợp không được phép vượt, không đảm bảo các điều kiện an toàn nên đã gây tai nạn làm người bị hại tử vong đã vi phạm vào khoản 2, 5 Điều 14 Luật giao thông đường bộ. Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo, hành vi của bị cáo trực tiếp xâm hại đến trật tự an toàn giao thông và tính mạng của người khác, vì vậy cần phải được xử lý nghiêm.

[4] Trách nhiệm hình sự (TNHS): Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tình tiết giảm nhẹ TNHS là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo và gia đình gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại, gia đình người bị hại có đơn xin giảm nhẹ TNHS; sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã đến Công an thành phố T đầu thú, bị cáo có bố tham gia kháng chiến được tặng thưởng Huân chương, chính quyền địa phương xác nhận bị cáo luôn chấp hành tốt pháp luật, nghĩa vụ đóng góp, tham gia ủng hộ các phong trào do địa phương phát động, các tình tiết giảm nhẹ được áp dụng cho bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS.

Hiện nay tình hình tai nạn giao thông diễn ra trên địa bàn thành phố T có chiều hướng gia tăng, vụ tai nạn xảy ra trong khu vực đông dân cư, tại các khu vực giao nhau nhưng bị cáo chưa chấp hành nghiêm luật giao thông đường bộ dẫn đến gây tai nạn làm người bị hại chết ngay tại chỗ, sau khi xảy ra tai nạn bị cáo bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm.

Với tính chất vụ án, hành vi phạm tội, cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo, sửa chữa sai phạm trở thành công dân có ích cho xã hội.

[5].Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận các bên đã giải quyết xong phần bồi thường dân sự.

[6]. Hình phạt bổ sung: Áp dụng Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính Phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đướng sắt, tước quyền sử dụng giấy phép lái xe của bị cáo và cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn 05 năm là phù hợp.

[7]. Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô BKS: 36H-027.24 và xe mô tô BKS: 36B2-901.65 cùng các giấy tờ liên quan cho chủ sở hữu hợp pháp.

[8]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

5

Căn cứ vào: điểm c Khoản 2, 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của BLHS; Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính Phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đướng sắt.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn H phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn H 04 (Bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 22/8/2024.

Hình phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng giấy phép lái xe của bị cáo và cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn 05 năm.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận các bên đã giải quyết xong phần bồi thường dân sự.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bị hại, bị đơn dân sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

Quyết định bản án được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND TP. Thanh Hóa;
  • - Công an TP. Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo;
  • - Người đại diện hợp pháp cho bị hại;
  • - Bị đơn dân sự;
  • - Chi cục THADS TP. Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Trần Thị Liên

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự)

  • Số bản án: 34/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger