|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG TỈNH CAO BẰNG Bản án số: 34/2024/HS-ST Ngày 05-12-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Hồng Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vi Văn Coóng
Bà Hoàng Thị Viễn
- Thư ký phiên tòa: Bà Lô Thị Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Đàm Hải Thao - Kiểm sát viên.
Ngày 05-12-2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2024/TLST-HS ngày 31-10-2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 21-11-2024 đối với bị cáo:
Hoàng Văn N
(tên gọi khác: Không), sinh ngày 24 tháng 9 năm 1982 tại xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng; nơi cư trú: Xóm B, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Quốc N1, sinh năm 1942 và bà Lục Thị L, sinh năm 1948; có vợ là Đàm Thị T, sinh năm 1983 và con: Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; Bị cáo là đảng viên hiện nay đang bị đình chỉ sinh hoạt đảng (theo Quyết định số: 89-QĐ/UBKTHU ngày 07-11-2024 của Ủy ban kiểm tra Huyện ủy H); Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27-8-2024 cho đến nay, có mặt.
- Người bào chữa: Bà Ma Thị L1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn N, có mặt.
- Bị hại: Bà Đào Thị V, sinh năm 1977; nơi cư trú: xóm C, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng, vắng mặt (có Đơn xin xét xử vắng mặt);
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Ông Hoàng Văn Đ, sinh năm 1976; nơi cư trú: xóm C, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng, vắng mặt (có Đơn xin xét xử vắng mặt);
+ Bà Đàm Thị T, sinh năm 1983; nơi cư trú: xóm B, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng, có mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 29-5-2024 Hoàng Văn N sinh năm 1982, trú tại xóm B, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng điều khiển xe ô tô mang biển kiểm soát 11C-049.57 nhãn hiệu NISSAN màu trắng từ nhà đi đến Cửa khẩu S, huyện H rồi sử dụng Giấy thông hành đi sang nước CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN TRUNG HOA (Trung Quốc) để uống rượu với các bạn. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, N quay lại Cửa khẩu S, huyện H để đi về nhà. Hoàng Văn N điều khiển xe ô tô mang biển kiểm soát 11C-049.57 đi theo hướng xã S - thị trấn X, huyện H. Khi đến Km2+864 đường N đoạn Đ - Cửa khẩu S thuộc địa phận xóm C, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng thì gặp xe mô tô mang biển kiểm soát 11F8-7910 do Đào Thị V sinh năm 1977, trú tại xóm C, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng điều khiển theo hướng thị trấn X - Cửa khẩu S, huyện H. Do trước đó đã uống rượu nên Hoàng Văn N ngủ gật không làm chủ được tay lái làm cho xe ô tô lấn sang phần đường ngược chiều. Lúc Nghị giật mình mở mắt thì đã thấy Đào Thị V ở ngay phần đầu xe. Do khoảng cách quá gần N không kịp xử lý mà đâm thẳng vào xe mô tô do V điều khiển, phần đầu bên trái của xe ô tô đâm vào phần thân bên trái xe mô tô và chân trái của Đào Thị V. Vụ va chạm làm cho xe ô tô bị nổ lốp tạo ra một tiếng nổ lớn đồng thời Đào Thị V và xe mô tô bật văng sang đám rẫy ở bên trái đường. Sau khi xe bị nổ lốp Hoàng Văn N đánh lái xe ô tô dọc theo bên trái đường theo hướng Cửa khẩu S - thị trấn X khoảng 36m thì dừng lại và đi xuống xem xét nạn nhân. Vụ tai nạn giao thông khiến Đào Thị V bị thương nặng, hai xe bị hư hỏng.
Tiến hành khám nghiệm hiện trường kết quả như sau: Hiện trường xảy ra tại đường N đoạn Đ - Cửa khẩu S thuộc xóm C, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Mặt đường nhựa áp phan rộng 6,50m, lề phải rộng 0,90m, lề trái rộng 1,25m theo hướng S - Đ, lấy mép đường bên trái làm chuẩn.
Vị trí 1: Xe mô tô mang biển kiểm soát 11F8-7910 xe đổ nghiêng bên trái, đầu xe hướng vào lòng đường (xe nằm ngoài mép chuẩn). Trục trước bên phải xe cách mép chuẩn 1,25m, trục sau bên phải xe cách mép chuẩn 2,45m.
Vị trí 2: Đống thóc và hai bao tải dứa màu vàng, cam vương vãi trên mép đường có kích thước trên diện 2,10 x 02 m. T1 vết nằm ngay trên mép chuẩn, tâm vết cách trục trước bên phải xe mô tô là 1,50m.
Vị trí 3: Chất màu đen bám dính trên mặt đường có kích thước dài 2,45m, rộng nhất 0,20m. T1 vết cách mép chuẩn là 0,45m, tâm vết cách tâm vị trí 02 là 1,40m, tâm cách trục trước xe mô tô là 2,70m.
Vị trí 4: Mẩu mô cơ bám dính trên dây cáp viễn thông nằm ngoài mép chuẩn, có kích thước 0,01 x 0,01 m. Vị trí 4 cách mép chuẩn là 3,15m, cách vị trí 3 là 3,60m, cách trục trước xe mô tô là 3,45m;
Vị trí 5: Vết dịch màu nâu đỏ nằm ngoài mép chuẩn, tâm vết cách mép chuẩn là 4,10m. Vết có kích thước 0,45 x 0,25 m. T1 cách trục trước bên phải xe mô tô là 3,25m;
Vị trí 6: Mảnh nhựa, kính vỡ vương vãi trên lề đường, nằm ngoài mép chuẩn, có kích thước 0,25 x 0,20 m, vị trí 6 cách mép chuẩn là 1,70m, cách trục trước xe mô tô là 15,95m;
Vị trí 7: Vết cày trên nền đất (ngoài mép chuẩn) và vết trượt màu đen trên mặt đường có kích thước dài 36,01m, rộng nhất 0,25m. Đầu vết cách mép chuẩn là 01m, cuối vết cách mép chuẩn là 1,80m. Từ vị trí 6 cách đầu vị trí 7 là 1,60m.
Vị trí 8: Vết lõm trên nền đất nằm trong rẫy cỏ có bám dính chất dịch màu nâu đỏ và mô cơ, vết có kích thước 0,80 x 0,45 m, sâu 0,02m. T1 vết cách mép chuẩn là 31,20m, tâm vết cách trục trước xe mô tô là 30,60m.
Vị trí 9: Vết trượt màu đen đứt quãng hình vòng cung trên mặt đường, điểm kết thúc tại mép trong lốp bánh xe trước bên trái xe ô tô mang biển kiểm soát 11C-049.57. Vết có kích thước dài 25,95m, rộng nhất 0,03m, đỉnh cung cao nhất 1,80m. Đầu vết cách mép chuẩn là 2,06m, cuối vết cách mép chuẩn là 5,30m. Cuối vết 7 cách đầu vết 9 là 0,30m.
Vị trí 10: Xe ô tô mang biển kiểm soát 11C-049.57, xe đỗ ở mép phải đường, trục trước bên trái cách mép chuẩn là 5,10m, trục sau bên trái cách mép chuẩn là 05m. Đầu vết 9 cách trục sau bên trái xe ô tô là 25,85m.
Lấy cột điện ký hiệu TBA Nà Sác 1.15 làm mốc. Từ mốc cách trục trước bên phải xe mô tô là 14m, cách tâm vị trí 2 là 13,70m.
Khám nghiệm phương tiện:
Ô tô biển kiểm soát 11C-049.57 nhãn hiệu NISSAN màu trắng, số máy: YD25834341T, số khung: 4D23Z0045929: Mặt gương chiếu hậu bên trái không có, mặt ngoài đằng trước ốp gương bên trái bật ra khỏi lẫy; Mặt ngoài đằng trước bên trái nắp capo (ngay trên cụm đèn bên trái) có vết trượt xước có chiều hướng từ trước về sau, kích thước trên diện 32 x 12 cm; Cụm đèn chiếu sáng và đèn tín hiệu chuyển hướng bên trái nứt vỡ, kích thước trên diện 57 x 20 cm; Phần ốp đầu xe phía trước bên trái biến dạng, móp méo có vết trượt xước, mất sơn, bong chóc sơn, có bám dính chất màu đỏ và các mô cơ kích thước trên diện 75 x 40 cm, sâu nhất 5cm; Ba đờ sốc phía trước bên trái có vết nứt vỡ, mất phần nhựa, bám dính chất màu đỏ, kích thước trên diện 55 x 45 cm, ngoài ra còn bám dính chất màu xanh tím; Đèn gầm phía trước bên trái bị gãy rời ốp đèn gầm mạ cờ rôm bị bật ra khỏi lẫy; Chắn bùn đằng trước bên trái bị móp méo, bật ra khỏi lẫy, mất phần nhựa, trên phần nhựa chắn bùn có bám dính hạt thóc, mặt trên chắn bùn có bám dính mô cơ, kích thước trên diện 120 x 22 cm; Tại mặt ngoài lốp xe phía trước bên trái có 02 vết rách, vết thứ nhất có kích thước 3x3 cm có chiều hướng từ ngoài vào trong tâm vết đến chân van dài 15cm, tâm vết đến trục bánh xe phía trước bên trái dài 27cm. Vết thứ hai có kích thước 3 x 1,5 cm từ tâm đến chân van 18cm, từ tâm đến trục 32cm (bánh xe đã không còn hơi); Mặt ngoài la răng bánh xe đằng trước bên trái có vết mài xước bám dính chất màu đen kích thước 16,5 x 1,5 cm.
Xe mô tô nhãn hiệu HONDA biển kiểm soát 11F8-7910: Mặt gương chiếu hậu bên trái không có. Cán gương bị xô lệch từ trái qua phải, mặt ngoài cán gương có bám dính bùn đất, kích thước 10 x 2,5 cm; Mặt ngoài ốp nhựa cụm đèn pha và đèn tín hiệu bên trái có vết mài xước bám dính bùn đất, có kích thước 27 x 16 cm; Mặt ngoài đèn pha có vết mài xước bám dính bùn đất, kích thước 13 x 4 cm; Tay nắm lái bên trái hơi lệch theo chiều hướng từ trước về sau; Mặt nạ đằng trước bên trái có vết trượt xước bám dính bùn đất, kích thước 6 x 5,5 cm; Phần yếm đằng trước bên trái (mặt ngoài) có vết trượt xước, nứt vỡ, kích thước trên diện 43 x 13 cm; T2 kim loại bảo vệ động cơ bị méo mó, biến dạng bám dính chất màu đen, xô từ trước về sau; Mặt ngoài hộp máy bên trái có vết mài trượt xước bám dính chất màu đen kích thước 15 x 12 cm; Cần gạt số bị cong gập từ trước về sau bám dính bùn đất; T2 kim loại chân dẫm đằng trước bên trái bị cong gập từ trước về sau; Chân dẫm đằng sau bên trái bị gãy rời; Ốp nhựa sườn xe đằng sau bên trái bị gãy rời; Mặt ngoài ốp nhựa thân xe bên trái có vết mài xước, bám dính chất màu đỏ trắng, kích thước trên diện 28 x 30 cm; Trục giảm xóc đằng sau bên trái bị cong từ trước về sau; Mặt ngoài bên trái cụm đèn chiếu hậu có bám dính chất màu nâu đỏ và mô cơ kích thước trên diện 14 x 15 cm; Mặt ngoài hộp xích có vết mài xước bám dính chất màu đen kích thước 16 x 4 cm.
Ngày 29-5-2024, tiến hành đo nồng độ cồn trong hơi thở của Hoàng Văn N có nồng độ cồn trong hơi thở là 0,167 mg/L.
Ngày 08-8-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh C giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Đào Thị V. Ngày 15-8-2024 Trung tâm pháp y tỉnh C đã có Kết luật giám định tổn thương trên cơ thể người sống (số: 127/KLTTCT-TTPY) của Đào Thị V như sau:
* Kết quả khám giám định:
- Vết sẹo mổ ngón I tay trái, kích thước trung bình;
- Hai vết sẹo mổ đốt 1, 2 ngón V tay trái, kích thước nhỏ;
- Cụt 1/3 giữa đùi trái.
* Kết quả cận lâm sàng:
- Gẫy xương đốt bàn V tay trái;
- Gẫy xương đốt 1, 2 ngón V ngón tay trái;
- Gẫy đầu dưới xương quay tay trái;
- Gẫy ngành ngồi mu bên trái, trật khớp mu.
Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28-8-2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đào Thị V tại thời điểm giám định là 76%, áp dụng phương pháp cộng trừ tại Thông tư.
Ngày 08-8-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H gửi Yêu cầu định giá tài sản đến Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H để xác định thiệt hại đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA mang biển kiểm soát 11F8-7910. Ngày 16-8-2024 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA biển kiểm soát 11F8-7910 bị thiệt hại tại thời điểm định giá có giá trị là 1.640.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà Hoàng Văn N khai nhận: Khoảng hơn 11 giờ ngày 29-5-2024 N sử dụng Giấy thông hành đi qua Cửa khẩu S, huyện H sang Trung Quốc để giao lưu uống rượu với bạn. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì N sử dụng Giấy thông hành quay lại ra Cửa khẩu S, huyện H để đi về nhà. Nghị một mình điều khiển xe ô tô mang biển kiểm soát 11C-049.57 nhãn hiệu NISSAN màu trắng theo hướng Cửa khẩu S - thị trấn X, khi đến đoạn xóm C, xã T, huyện H do uống rượu buổi trưa nên Nghị ngủ gật, lúc giật mình tỉnh dậy nhìn về phía trước thì xe ô tô do N đang điều khiển đã lấn sang phần đường bên trái, thời điểm đó có 01 (một) người phụ nữ đang đi ngược chiều. Do khoảng cách quá gần nên đầu xe bên trái ô tô của N đã đâm vào chân trái và phần xe bên trái của người phụ nữ này, khi hai xe va chạm với nhau tạo nên một tiếng nổ lớn làm xe ô tô của N bị nổ lốp. Sau đó, N vẫn tiếp tục điều khiển xe theo phần đường bên trái thêm một đoạn nữa thì dừng lại và mở cửa xe đi xuống xem xét tình hình thì phát hiện người phụ nữ đang nằm ở dưới đường nên N chạy vào cạnh và hỏi thì người phụ nữ này đã nhờ N đi gọi anh Đ1 ở gần đó. Khi N và anh Đ1 chạy tới thì mới phát hiện người phụ nữ này (sau này N mới biết tên là Đào Thị V) đã bị cụt chân bên trái, nên đã cùng nhau đi tìm chân. Còn bà V được người nhà đưa đi cấp cứu trước. Khoảng 10 phút sau, có người tìm thấy chân của bà V nên N cùng anh Đ1 đã đưa chân xuống Bệnh viện huyện H.
Tại Cơ quan điều tra và trong Đơn xin xét xử vắng mặt bị hại Đào Thị V trình bày: Khoảng hơn 15 giờ ngày 29-5-2024 bà V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA biển kiểm soát 11F8-7910 theo hướng Đ - S và chở theo hai nửa bao thóc nhằm mục đích đi gieo mạ. Khi đi đến đoạn xóm C, xã T, huyện H thì phát hiện 01 (một) xe ô tô bán tải màu trắng đang đi ngược chiều và lấn sang phần đường của Bà. Thấy chiếc xe ô tô đang đi nhanh về hướng của mình và có thể đâm trúng nên B đã điều khiển chiếc xe mô tô đi sát vào lề đường bên phải theo hướng di chuyển, tuy nhiên do chiếc ô tô di chuyển nhanh nên đã đâm vào xe của Bà tạo ra một tiếng nổ lớn, khi Bà mở mắt tỉnh dậy thì đã thấy nằm ở gần gốc cây chuối ở đám rẫy ven đường nên Bà có gọi bà Trương Thị N2 ở gần đó đến giúp. Sau đó, có một người đàn ông đi đến (sau này Bà mới biết là Hoàng Văn N) có hỏi Bà và Bà có nhờ N chạy lên nhà em Đ1 (là em trai của chồng Bà) để gọi người. Khi bà Trương Thị N2 chạy đến đã giúp Bà nâng người lên thì phát hiện chân trái của B đã bị đứt rời, còn ngón tay út bị gãy. Sau đó mọi người đau Bà đến Bệnh viện đa khoa huyện H, rồi được di chuyển lên Bệnh viện tuyến trên để cấp cứu và chữa trị. Hoàng Văn N và gia đình Bà đã thỏa thuận xong việc bồi thường, N bồi thường cho Bà số tiền 540.000.000 đồng. Việc bồi thường đã thực hiện xong nên Bà không có ý kiến và yêu cầu gì thêm.
Tại Cơ quan điều tra và trong Đơn xin xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Hoàng Văn Đ trình bày: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA mang biển kiểm soát 11F8-7910 là chiếc xe được ông Đ mua vào năm 2007 với giá 20.000.000 đồng, giấy tờ xe đều mang tên của Ông. Sau khi được trả lại xe, Hoàng Văn N là người đã chi trả khoản tiền sửa chữa xe mô tô cho Ông. Việc thỏa thuận bồi thường đã thực hiện xong, Ông không có ý kiến gì thêm.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Đàm Thị T trình bày: Chiếc xe ô tô mang biển kiểm soát 11C-049.57 nhãn hiệu NISSAN màu trắng là tài sản chung của vợ chồng Bà. Chiếc xe ô tô đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H trả lại, vì vậy tại phiên tòa Bà không có ý kiến hay yêu cầu gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số: 36/CT-VKSHQ, ngày 29-10-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng truy tố bị can Hoàng Văn N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Hoàng Văn N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Văn N 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 05 năm.
Hình phạt bổ sung: Không có.
Về trách nhiệm dân sự: Việc bồi thường đã thực hiện xong nên không đặt ra xem xét.
Xử lý vật chứng: Tài sản đã được trả lại nên không đề nghị xem xét.
Áp dụng Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo do bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và bị cáo đã có đơn xin miễn án phí sơ thẩm.
Trong bản Luận cứ bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn N người bào chữa nhất trí với kết luận của Kiểm sát viên truy tố bị cáo N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các yếu tố sau đây: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo rất thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình với thái độ ăn năn, hối cải. Ngày 16-7-2024, bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 540.000.000 đồng, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Mặt khác, năm 1986 Bố đẻ của bị cáo là ông Hoàng Quốc N1 được Hội tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng ba, mẹ đẻ là bà Lục Thị L được Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo Hoàng Văn N hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng mức án thấp hơn theo đề nghị của Viện kiểm sát và miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung bản Cáo trạng. Tại phần tranh luận, bị cáo Hoàng Văn N, người bào chữa, bà Đàm Thị T không có ý kiến tranh luận và nhất trí với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời sau cùng, bị cáo nhận ra lỗi lầm của mình, sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã khắc phục, sửa chữa lỗi lầm mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông, bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, đủ căn cứ và cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 29-5-2024 Hoàng Văn N một mình điều khiển xe ô tô mang biển kiểm soát 11C-049.57 nhãn hiệu NISSAN màu trắng theo hướng Cửa khẩu S - thị trấn X để đi về nhà, khi điều khiển xe đến đoạn Km2+864 đường N thuộc địa phận xóm C, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng do đã uống rượu vào buổi trưa nên N ngủ gật, lúc giật mình tỉnh dậy nhìn về phía trước thì xe ô tô đã lấn sang phần đường bên trái đồng thời lúc này bà Đào Thị V đang đi ngược chiều, do khoảng cách quá gần nên đầu xe ô tô bên trái của N đâm vào chân trái và phần xe mô tô bên trái của Đào Thị V, khi hai xe va chạm với nhau tạo nên một tiếng nổ lớn làm xe ô tô của Nghị nổ lốp, hậu quả khiến bà Đào Thị V bị tổn thương cơ thể 76%, hai xe bị hư hỏng. Khi tham gia giao thông hành vi của bị cáo Hoàng Văn N đã vi phạm vào khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ do sử dụng rượu (có nồng độ cồn trong hơi thở 0,167mg/L) và bị cáo đã có hành vi lấn sang đường bên trái theo hướng đi mà không tuân thủ, chấp hành theo quy tắc chung “phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường” được quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ. Như vậy, đủ căn cứ khẳng định bị cáo Hoàng Văn N đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Chứng cứ mà Viện kiểm sát đưa ra là đúng người, đúng tội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng, gây thương tích cho bị hại. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội đã gây ra.
[2] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo sinh ra và lớn lên tại xóm B, xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng. Bản thân bị cáo trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại. Trong quá trình điều tra, bị hại tự nguyện có Đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Ngoài ra, năm 1986 Bố đẻ của bị cáo là ông Hoàng Quốc N1 được Hội tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng ba, mẹ đẻ là bà Lục Thị L được Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi xem xét quyết định hình phạt.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến sức khỏe, gây tổn thương cơ thể của người khác, ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương. Nhưng Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo và đáp ứng được công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Xét thấy, việc đề nghị áp dụng pháp luật và mức hình phạt đối với bị cáo của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung:
Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
- Bị cáo đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho bị hại tổng số tiền 540.000.000 đồng. Xét thấy, việc thỏa thuận bồi thường là hoàn toàn tự nguyện và không trái với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản gì nên Hội đồng xét xử không xem xét gì thêm về phần trách nhiệm dân sự.
- Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, do chiếc xe mô tô đã được bị cáo chi trả tiền sửa chữa xe nên ông Hoàng Văn Đ không có ý kiến hay yêu cầu gì thêm đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét gì thêm.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với chiếc xe ô tô mang biển kiểm soát 11C-049.57 nhãn hiệu NISSAN màu trắng theo lời khai của bị cáo, bà Đàm Thị T thì đây là tài sản chung của bị cáo Hoàng Văn N và bà Đàm Thị T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng số: 303/QĐ-ĐTTH ngày 19-9-2024 trả lại chiếc xe ô tô nói trên cho chủ sở hữu hợp pháp. Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là lỗi vô ý do đó việc trả lại chiếc xe ô tô mang biển kiểm soát 11C-049.57 nhãn hiệu NISSAN màu trắng cho bị cáo N và bà Đàm Thị T là có căn cứ.
- Đối với chiếc xe mô tô mang nhãn hiệu HONDA màu đỏ xám mang biển kiểm soát 11F8-7910 thuộc quyền sở hữu của ông Hoàng Văn Đ. Ngày 19-9-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng số: 303/QĐ-ĐTTH trả lại chiếc xe mô tô cho ông Đ là có căn cứ.
[7] Đối với ý kiến của người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo Hoàng Văn N được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Với đề nghị cho bị cáo hưởng mức án thấp hơn mức mà Viện kiểm sát đề xuất thì Hội đồng xét xử xét thấy không phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên đề nghị của người bào chữa không được chấp nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn N là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và bị cáo đã có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm nên căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Quảng, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 05-12-2024).
Giao bị cáo Hoàng Văn N cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Cao Bằng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Xác nhận các bên đã thực hiện xong việc bồi thường thiệt hại. Ghi nhận sự tự nguyện của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết về trách nhiệm dân sự.
3. Về án phí:
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Văn N.
4. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Đàm Thị T có quyền kháng cáo về phần quyền lợi liên quan trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Hoàng Văn Đ có quyền kháng cáo về phần quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Hồng Vân |
Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 34/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ QUẢNG, TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn N
