|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2024/HS-ST |
|
|
Ngày 25 - 11 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mùa A Phềnh
Ông Lò Văn Chương
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Tiến Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2024/HSST ngày 01 tháng 11 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn T (tên gọi khác: Không có) - Sinh năm: 1987; Nơi sinh: Tại tỉnh Điện Biên; Nơi ĐKTT và chỗ ở trước ngày bị bắt: Bản B, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Không; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lò Văn T1 (đã chết) và bà Lò Thị H; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án nào xét xử.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/10/2024, sau đó bị tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 45 phút ngày 01/10/2024, khi T đang đi bộ trên đường thuộc thôn C, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên thì bị tổ công tác Công an xã Thanh Hưng chủ trì phối hợp với Công an xã Thanh Xương, huyện Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại túi áo ngực bên trái T đang mặc 01 gói nilon màu hồng bên trong gồm: 02 viên Methamphetamine có khối lượng 0,2 gam và 01 gói nilon màu hồng chứa 0,31 gam Heroine. Tổng khối lượng hai chất ma túy là 0,51 gam. Bị cáo khai nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là do khoảng 12 giờ 15 phút ngày 01/10/2024, Lò Văn T đi bộ từ nhà ở Bản B, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên đến khu vực bản Xôm, xã Thanh An, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, T gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ) 01 gói bên trong có 01 gói Heroine và 02 viên Methamphetamine với giá 140.000 đồng. Mua xong, T cất gói ma tuý vào túi áo ngực bên trái đang mặc rồi đi bộ về. Trên đường về thì bị phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Tại Bản kết luận giám định số 1549/KL-KTHS ngày 07/10/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên, kết luận: Vật chứng thu giữ của Lò Văn T có khối lượng 0,31 gam các cục bột màu trắng là chất ma túy: Loại Heroine và 0,2 gam các viên nén màu hồng là chất ma túy: Loại Methamphetamine. Hoàn lại 02 mẫu vật còn lại sau giám định có ký hiệu và khối lượng M1: 0,16 gam ; M2: 0,23 gam.
Tại Bản cáo trạng số: 220/CT-VKSHĐB ngày 01/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và khẳng định hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 16 tháng đến 20 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,23 gam Heroine và 0,16 gam Methamphetamine (là vật chứng còn lại sau giám định); 02 mảnh nilon màu hồng.
Về án phí: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát và lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: Hồi 12 giờ 45 phút ngày 01/10/2024, tại khu vực thôn C, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Lò Văn T đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,31 gam Heroine và 0,2 gam Methamphetamine, tổng khối lượng của 02 chất ma túy là 0,51 gam, mục đích để bản thân sử dụng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
[2] Về tính chất, mức độ, động cơ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng cũng như nhận thức được chính sách pháp luật hình sự của nhà nước đối với những hành vi mua bán, tàng trữ ... trái phép chất ma túy nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật, cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội lớn, không những xâm phạm những quy định của nhà nước về chế độ quản lý, sử dụng các chất ma túy mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn huyện Đ. Do vậy, cần phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Về nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị Tòa án nào xét xử.
[6] Từ những phân tích nêu trên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố và kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS xử phạt bị cáo từ 16 tháng đến 20 tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật, bị cáo không bị oan.
[7] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, bị cáo làm ruộng thu nhập không ổn định, bị cáo không có tài sản nào khác có giá trị. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[9] Các vấn đề khác: Bị cáo khai mua ma túy của người đàn ông không biết tên, địa chỉ nên không có căn cứ giải quyết trong vụ án.
[10] Về vật chứng vụ án:
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 0,23 gam Heroine và 0,16 gam Methamphetamine (là vật chứng còn lại sau giám định); 02 (hai) mảnh nilon màu hồng.
[11] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Đều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;
-
Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lò Văn T 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 01/10/2024).
-
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 0,23 gam Heroine và 0,16 gam Methamphetamine (là vật chứng còn lại sau giám định); 02 (hai) mảnh nilon màu hồng.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01/11/2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ).
-
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 25/11/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bằng |
Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 34/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồi 12 giờ 45 phút ngày 01/10/2024, tại khu vực thôn C, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Lò Văn T đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,31 gam Heroine và 0,2 gam Methamphetamine, tổng khối lượng của 02 chất ma túy là 0,51 gam, mục đích để bản thân sử dụng.
