Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHƯ XUÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 34/2024/HS-ST

Ngày: 21-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Ngô Công Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Xuân Ký – Cán bộ hưu trí.
  2. Bà Lê Thị Bảy – P. Trưởng phòng LĐTB&XH huyện Như Xuân

- Thư ký phiên toà: Bà Lô Thị Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Hàn Văn Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại Toà án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Văn T, Sinh ngày: 12/5/2006 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Thổ; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn T1, sinh năm 1978; con bà: Vi Thị M, sinh năm 1982; chưa có vợ, con;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/5/2024 cho đến nay (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Đức H – trợ giúp viên pháp lý- Chi nhánh S, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T.

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn N - sinh năm: 2004

Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt).

- Người làm chứng:

  • + Anh Lê Văn K - sinh ngày: 18/9/2007 (Có mặt).
  • - Người đại diện hợp pháp của người làm chứng anh Lê Văn K: Ông Lê Văn T2 - sinh năm: 1984
  • Cùng cư trú: Khu phố C, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt).
  • + Anh Lê Trọng N1 - sinh ngày: 10/6/2006
  • Nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt).
  • + Anh Nguyễn Huy Q - sinh năm: 2004 (Vắng mặt).
  • Nơi cư trú: Thôn X, H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
  • + Anh Lê Quang L- sinh năm: 2004 (Vắng mặt).
  • Nơi cư trú: Thôn V, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
  • + Chị Quách Thị V - sinh năm: 1994 (Vắng mặt).
  • Nơi cư trú: Khu phố B, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
  • + Chị Bùi Thị T3 - sinh năm: 1975 (Vắng mặt).
  • Nơi cư trú: Khu phố B, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 08/3/2024, do có mâu thuẫn với nhau từ trước nên giữa Lê Văn K, trú tại khu phố C, huyện N và Nguyễn Văn N, trú tại thôn T, xã H xảy ra đánh nhau tại Trung tâm giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên huyện N. Do bị đánh, K nhắn tin báo cho Lê Văn T (là anh họ K) biết, hẹn đến đón K. Đến khoảng gần 11 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi tan học ở trường Trung học phổ thông N2, thấy Lê Trọng N1 (là bạn của T) đi xe máy qua cổng trường nên T nhờ N1 chở đến Trung tâm giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên huyện N để giải quyết việc đánh nhau giữa K và N. Trên đường đi, gặp K đang trên đường về, cả hai quay xe cùng với K đi về khu vực cổng sau của Trường trung học phổ thông N2 để T lấy cặp sách. Đến nơi, trong lúc đứng ngoài đợi T vào quán nước của bà Quách Thị V lấy cặp sách, K gặp N đang đi cùng với Nguyễn Huy Q, Lường Văn T4 đến nên tiếp tục xảy ra mâu thuẫn, cãi vã với N. Nghe thấy tiếng cãi nhau, nghĩ là K bị đánh nên chạy từ trong quán nước ra dùng tay đấm vào người N nhưng bị trượt, ngã xuống đất, N quay lại dùng chân đạp vào người T. Thấy vậy, K cũng xông vào dùng tay chân đánh nhau với N, còn T do bị N đạp vào người nên bực tức lấy con dao gấp có sẵn trong túi áo ra, trong tư thế ngồi dưới đất dùng dao đâm 04 nhát theo hướng từ dưới lên trên, từ phải qua trái vào

vùng mông, đùi sau của N. Lúc này, N quay lại thì thấy T đang cầm dao đâm về phía mình nên bỏ chạy, sau khi chạy được một đoạn thấy bị đau, chảy máu, kiểm tra N mới biết bản thân bị T dùng dao đâm gây thương tích và nhờ Q và những người khác chở đến Bệnh viện đa khoa huyện N cấp cứu, điều trị thương tích. Còn T cũng vứt dao lại hiện trường rồi bỏ đi về nhà.

Kết quả khám thương ban đầu và các hồ sơ Bệnh án xác định Nguyễn Văn N bị các thương tích sau:

  • Cạnh rãnh mông có vết thương kích thước (2x3) cm, rách toàn bộ cơ có đến trực tràng, gây thủng trực tràng.
  • 01 vết thương vùng mông bên trái, kích thước (2x3) cm, rách toàn bộ cơ mông, phía trong có nhiều máu cục và máu đỏ tươi, bờ mép sắc gọn;
  • 01 vết thương mặt trước đùi phải, kích thước (2x3) cm, độ sâu khó xác định, rách toàn bộ vùng cơ đùi trước, có nhiều máu cục lẫn máu tươi chảy ra, bờ mép sắc gọn;
  • 01 vết thương mặt sau đùi trái, kích thước (2x3) cm, chảy máu đỏ tươi.

Kết quả giám định tại Bản kết luận giám định số 404/KLTTCT-PYTH ngày 19/4/2024 của Trung tâm P xác định: Tại thời điểm giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với Nguyễn Văn N là 40% (bốn mươi phần trăm); Các vết thương của Nguyễn Văn Nguyên D vật có cạnh sắc nhọn gây nên.

Sau khi phạm tội, bị cáo Lê Văn T đã đến Cơ quan Công an đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên. Ngoài ra, quá trình điều tra, T cũng đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu cho người bị hại, được người bị hại đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

* Về việc thu giữ, tạm giữ, xử lý đồ vật, tài liệu vật chứng của vụ án:

Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm con dao là hung khí gây án của T vứt lại hiện trường nhưng không thấy.

Quá trình điều tra, Lê Văn T đã tự nguyện giao nộp 01 con dao gấp bằng kim loại dài 20cm, lưỡi dao sắc nhọn, dài 09cm, chỗ rộng nhất là 2cm và xác định đây là con dao có đặc điểm tương tự như con dao T sử dụng gây thương tích cho Nguyễn Văn N. Sau khi kiểm tra, đánh giá, mô tả, chụp ảnh đưa vào hồ sơ, Cơ quan điều tra đã giao trả lại cho T.

* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Lê Văn T và gia đình đã bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn N số tiền 45.000.000 đồng. Bị hại không yêu cầu bị

cáo phải bồi thường gì thêm và tại phiên toà bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại Bản cáo trạng số: 37/CT-VKSNX ngày 05/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
  • - Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 90; Điều 91; Điều 101 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
  • Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 33 tháng đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 60 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;
  • - Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Lê Văn T và gia đình đã bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn N số tiền 45.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết về phần án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo thống nhất với quan điểm luận tội của đại diện viện kiểm sát về các tình tiết của vụ án, tội danh, điều luật. Đồng thời, người bào chữa đề nghị HĐXX xem xét các tình tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện cùng gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, được bị hại đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt; sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, gia đình bị cáo có ông nội là Lê Văn X là người có công với cách mạng; gia đình bị cáo đang thờ cúng liệt sĩ.

Bị cáo, bị hại thống nhất với luận tội và không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Người đại diện hợp pháp của bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Khi nói lời sau cùng, bị cáo nhận tội, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật với mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản xem xét dấu vết trên thân thể người bị hại, kết quả khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định pháp y, vật chứng vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở để kết luận:

Xuất phát từ mâu thuẫn bộc phát do thấy Lê Văn K (là em họ mình) xảy ra mâu thuẫn với Nguyễn Văn N, khi thấy K và N đang to tiếng với nhau thì T đã chạy lại dùng tay đấm N nhưng không trúng, trượt chân ngã xuống đất. Bị tấn công, N dùng chân đạp vào người T. Bực tức, T lấy con dao gấp bằng kim loại, lưỡi dao sắc nhọn có sẵn trong người ra tấn công, đâm N 04 nhát vào vùng mông trái, đùi trái, đùi phải gây thương tích, làm N bị tổn thương cơ thể theo giám định là 40%. Do đó, hành vi của bị cáo Lê Văn T dùng dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích tổn hại sức khỏe 40% cho bị hại Nguyễn Văn N đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét về tính chất, mức độ hành vi, hậu quả thấy rằng: Hành vi của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, không những trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ mà còn ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần xử lý nghiêm minh để cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật, đồng thời để giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng:

Bị cáo Lê Văn T có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện cùng gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, được bị hại đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt; sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, bị cáo có ông nội là Lê Văn X là người có công với cách mạng; gia đình bị cáo đang thờ cúng liệt sĩ. Ngoài ra, trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi khi dùng chân đạp vào người bị cáo. Do đó, HĐXX cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là phù hợp.

Thời điểm phạm tội, Bị cáo là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. Bị cáo là người chưa thành niên phạm tội nên chưa nhận thức được đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của mình gây ra; do đó khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 90; Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xem xét chính sách khoan hồng đối với người chưa thành niên phạm tội, lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có 2 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51 BLHS nên HĐXX áp dụng Điều 54 BLHS để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự cũng đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Lê Văn T và gia đình đã bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn N số tiền 45.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về vật chứng: Đối với 01 con dao gấp bằng kim loại dài 20cm, lưỡi dao sắc nhọn, dài 09cm, chỗ rộng nhất là 2cm và xác định đây là con dao có đặc điểm tương tự như con dao T sử dụng gây thương tích cho Nguyễn Văn N.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp. HĐXX không xem xét.

[7] Về các vấn đề khác:

Đối với Lê Văn K, khi thấy T dùng tay đấm N cũng xông vào đánh nhau với N thể hiện việc K tiếp nhận ý chí của T. Tuy nhiên, K không biết việc T mang theo dao và sử dụng dao tấn công Nguyên gây thương tích, bản thân K cũng không gây ra thương tích gì cho N nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan điều tra đã đề nghị Trưởng Công an huyện N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với K. Do đó HĐXX không xem xét.

Đối với Nguyễn Văn N, trước đó cũng đã có hành vi dùng tay đánh Lê Văn K tại Trung tâm giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên huyện N nhưng không gây ra thương tích nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan điều tra đã đề nghị Trưởng Công an huyện N ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với N. Do đó HĐXX không xem xét.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo:

  • - Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
  • - Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 90; Điều 91; Điều 101 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự,

  • - Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”;
  • - Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/11/2024).

Giao bị cáo Lê Văn T cho UBND thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật TTHS; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1, khoản 3 Điều 21 và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc Bị cáo Lê Văn T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Như Xuân;
  • - CQĐT Công an huyện Như Xuân;
  • - CQTHAHS Công an huyện Như Xuân;
  • - Chi cục THADS huyện Như Xuân;
  • - Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị cáo;
  • người bào chữa; bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Ngô Công Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 34/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn T, phạm tội "Cố ý gây thương tích"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger