TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2024/HNGĐ-PT Ngày: 19 - 11 - 2024 V/v “Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hà
Các Thẩm phán: Ông Dương Hùng Quang
Bà Đinh Cẩm Đào
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Khuyên là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 39/2024/TLPT-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2024 về việc: Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn.
Do bản hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 116/2024/HNGĐ-ST ngày 30/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 41/2024/QĐXX-PT ngày 23 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị P, sinh năm 1978 (có mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp P, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà P: Luật sư Mai Thiên T thuộc đoàn luật sư tỉnh C (có mặt).
- Bị đơn: Ông Trần Văn T1, sinh năm 1962 (có mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông T1:
- Luật sư Quách Ngọc L thuộc đoàn luật sư tỉnh C (có mặt).
- Bà Phan Tố N là Luật sư ký hợp đồng Trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Trần Bích T2, sinh năm 1991
- Anh Lê Phi C, sinh năm 1987
- Chị Trần Ngọc L1, sinh năm 1989
- Anh Hoàng Văn T3
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Chị Trần Kiều N1, sinh năm 1992
- Anh Huỳnh Văn T4, sinh năm 1989
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Chị Trần Thị H, sinh năm 2000
- Anh Trương Văn P1, sinh năm 1990
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Ông Trần Văn T5, sinh năm 1939
Địa chỉ cư trú: Ấp V, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang.
- Ông Huỳnh Tấn T6, sinh năm 1966
Địa chỉ cư trú: Ấp P, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Ông Đoàn Văn D, sinh năm 1954
- Bà Võ Thị H1, sinh năm 1956
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp I, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau
- Người kháng cáo: Ông Trần Văn T1, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Lê Thị P trình bày: Bà P và ông T1 đã ly hôn vào năm 2022 theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 24/2022/QĐCNTTLH, ngày 05/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình. Khi ly hôn, bà P và ông T1 tự thỏa thuận phân chia tài sản chung. Tuy nhiên, bà và ông T1 không thỏa thuận được với nhau nên phát sinh tranh chấp. Bà P và ông T1 có các tài sản chung như sau:
- Phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế 2.617,5m², trích đo từ thửa số 559, tờ bản đồ số 6 (bản đồ chỉnh lý năm 2016), tọa lạc tại ấp F L, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau. Nguồn gốc do vợ chồng nhận sang nhượng của ông Trần Văn T5 vào 2000. Phần đất này hiện do con riêng của ông T1 là chị Trần Ngọc L1 đang cất nhà ở trên đất.
- Phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế 11.532,2 m², trích đo từ thửa số 05, số 10, tờ bản đồ địa chính số 5 (bản đồ chỉnh lý năm 2016), tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Nguồn gốc do vợ chồng sang nhượng của ông Đoàn Văn D và bà Võ Thị H1, trú tại ấp I, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 0750143, số vào sổ 18365, cấp ngày 03/4/1995, do ông Huỳnh Tấn T6 đứng tên chủ sử dụng.
- Phần đất có diện tích 19.850 m² thuộc thửa số 09, 10, tờ bản số 06, tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau do ông Trần Văn T1 đứng tên sử dụng. Nguồn gốc phần do cha mẹ chồng là ông Trần Văn L2 và bà Võ Thị X cho ông T1 từ khi bà P chưa về làm vợ ông T1.
- 01 căn nhà tường, lợp mái tol, nền lát gạch bông, chiều ngang 4,5 m x19m được xây cất vào năm 2016, giá trị còn lại 445.611.750 đồng, căn nhà cất trên phần đất có diện tích 19.850 m² thuộc thửa số 09, 10, tờ bản số 06, tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau, căn nhà do vợ chồng cất.
- Tài sản trong nhà gồm 01 chiếc xe biển số 69D1 293.22 do vợ chồng mua vào năm 2017 với giá trị 22.000.000 đồng; 01 bộ salon gỗ mua vào năm 2017 với giá trị 16.000.000 đồng; 02 ly quăng với giá 14.000.000 đồng, 05 bộ bàn với giá 4.500.000 đồng, 01 chiếc bơm nước mua vào năm 2019 với giá trị 3.000.000 đồng, tổng giá trị tài sản trong nhà là 59.500.000 đồng;
- Các tài sản nêu trên hiện do ông T1 đang quản lý, sử dụng.
- Người khác nợ vợ chồng các khoản nợ như sau:
Vợ chồng con riêng của ông T1 là Trần Bích T2, anh Lê Phi C nợ vợ chồng 15 chỉ vàng 24K, mượn vào năm 2019; Vợ chồng chị Trần Ngọc L1 và anh Hoàng Văn T3 nợ vợ chồng 03 chỉ vàng 24K, mượn vào năm 2017, vợ chồng chị Trần Thị H và Trương Văn P1 mượn 24.500.000 đồng. Đã trả 4.500.000 đồng, còn nợ lại 20.000.000 đồng. Các món nợ này đều mượn trong thời gian bà P và ông T1 còn chung sống với nhau.
Bà P yêu cầu chia đôi với ông T1 phần đất có diện tích 2.617,5m², trích đo từ thửa số 559, tờ bản đồ số 6 (bản đồ chỉnh lý năm 2016), tọa lạc tại ấp F L, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau và phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế 11.532,2m², trích đo từ thửa số 05, số 10, tờ bản đồ địa chính số 5 (bản đồ chỉnh lý năm 2016), tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Bà P không yêu cầu phân chia phần đất có diện tích 19.850 m² thuộc thửa số 09, 10, tờ bản số 06, tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau, bà yêu cầu ông T1 thanh toán lại cho bà công sức đóng góp trên phần đất này với số tiền 400.000.0000 đồng,
Đối với phần người khác nợ vợ chồng: Bà P yêu cầu vợ chồng chị T2, anh C trả lại 15 chỉ vàng 24K, vợ chồng chị L1 và anh T3 trả lại 03 chỉ vàng 24K, vợ chồng chị H và anh P1 trả lại 20.500.000 đồng cho bà và ông T1 để phân chia theo quy định của pháp luật.
Về phần tài sản sinh hoạt trong nhà bà P xin nhận quản lý 01 chiếc xe biển số 69D1 293.22, các tài sản còn lại bà tự nguyện giao cho ông T1 tiếp tục quản lý, sử dụng.
Bà P thay đổi yêu cầu, chỉ yêu cầu công sức đóng góp, không yêu cầu ông T1 thanh toán hoa lợi từ việc nuôi tôm, cua với số tiền 40.000.000 đồng.
- Bị đơn ông Trần Văn T1 trình bày: Phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế 2.617,5m², trích đo từ thửa số 559, tờ bản đồ số 6 (bản đồ chỉnh lý năm 2016), tọa lạc tại ấp F L, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau, mua vào năm 1999, nguồn gốc phần đất là do trước đây con trai của ông Trần Văn T5 nợ vàng của ông và vợ trước là bà Võ Thị N2. Sau khi tính toán tiền vốn và lãi, ông T5 sang nhượng cho ông T1 phần đất này để cấn trừ nợ. Bà P không có liên quan gì đến phần đất này nên ông T1 không thống nhất chia phần đất này với bà P.
Phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế 11.532,2m², trích đo từ thửa số 05, số 10, tờ bản đồ địa chính số 5 (bản đồ chỉnh lý năm 2016), tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Nguồn gốc do vợ chồng sang nhượng của ông Đoàn Văn D và bà Võ Thị H1, trú tại ấp I, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D0750143, số vào sổ 18365, cấp ngày 03/4/1995, do ông Huỳnh Tấn T6 đứng tên chủ sử dụng. Phần đất này là tài sản chung của vợ chồng nên ông Thông thống N3 chia đối với bà P theo quy định của pháp luật.
Phần đất có diện tích 19.850 m² thuộc thửa số 09, 10, tờ bản số 06, tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau, là tài sản riêng của ông T1 do cha mẹ ông T1 là ông Trần Văn L2 và bà Võ Thị X cho vào năm 1989, khi đó ông còn chung sống với bà N2, đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1995, do ông T1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thời điểm này bà P chưa về chung sống với ông. Bà P chung sống với ông T1 vào năm 2000, ông không thống nhất chia.
01 căn nhà ở gia đình trị giá 367.005.000 đồng, mái che bên hông trị giá 12.558.750 đồng, tổng cộng 379.563.750, là tài sản chung của vợ chồng, nguồn tiền do canh tác phần đất 19.850 m², góp từ tiền sửa nhà. Đối với nhà phía sau có giá trị 66.048.000 đồng, Đối với căn nhà phía sau do chị L1 bỏ tiền ra cất nên không ý chia. Ông đồng ý chia cho bà P công sức 40% giá trị căn nhà là 151.825.500 đồng.
- Tài sản trong nhà gồm 01 chiếc xe biển số 69D1 293.22 do vợ chồng mua vào năm 2017 với giá trị 22.000.000 đồng; 01 bộ salon gỗ mua vào năm 2017 với giá trị 16.000.000 đồng; 02 ly quăng với giá 14.000.000 đồng, 05 bộ bàn với giá 4.500.000 đồng, 01 chiếc bơm nước mua vào năm 2019 với giá trị 3.000.000 đồng, ông thống nhất tổng giá trị tài sản là 59.500.000 đồng và thống nhất giao lại cho bà P nhận quản lý chiếc xe, ông T1 nhận quản lý toàn bộ tài sản còn lại.
- Về nợ chung: Ông T1 thừa nhận người khác nợ vợ chồng các khoản nợ như sau: Vợ chồng Trần Bích T2, anh Lê Phi C nợ vợ chồng 15 chỉ vàng 18K, mượn vào năm 2019, Vợ chồng Trần Ngọc L1 và anh Hoàng Văn T3 nợ vợ chồng 03 chỉ vàng 24K, mượn vào năm 2017, vợ chồng Trần Thị H và Trương Văn P1 mượn 24.500.000 đồng. Các khoản tiền này ông và bà P cho vay khi ông bà còn chung sống với nhau. Ông Thông thống N3 với ý kiến của bà P yêu cầu của bà P là chia đôi phần tài sản các con ông bà nợ nêu trên.
Khi ra di khỏi nhà, bà P đem đi 01 sợi dây chuyền 03 chỉ vàng 18K, 01 sợi dây chuyền 05 chỉ vàng 24K, 01 chiếc khâu 05 chỉ vàng 24K, 01 chiếc khâu 03 chỉ vàng 24K, 01 chiếc 05 phân vàng 18K. Tổng cộng 13,5 chỉ vàng 24K, 03 chỉ vàng 18K. Bà P đem đi số tiền mặt 90.000.000 đồng. Đối với các tài sản này ông T1 yêu cầu chia đôi.
Quá trình giải quyết vụ án, ông T1 yêu cầu chia cho chị T2, chị L1 mỗi người 2.000.000 đồng trong phần đất 11.110 m², tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Sau đó, tại các phiên hòa giải của tòa án, ông thay đổi không yêu cầu phân chia cho chị L1, chị T2.
Ông T1 không thống nhất với khoản công sức đóng góp 400.000.000 đồng mà bà P yêu cầu
Tại bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 116/2024/TLPT-HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình đã quyết định (tóm tắt):
- Chấp nhận một yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị P đối với ông Trần Văn T1 về việc yêu cầu chia tài sản sau khi ly hôn.
Buộc Trần Văn T1 giao lại cho bà Lê Thị P quản lý phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế 11.532,2 m², trích đo từ thửa số 5, 10, tờ bản đồ địa chính số 05 (bản đồ chỉnh lý năm 2018) đất tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Ông Trần Văn T1 tiếp tục quản lý, sử dụng 01 căn nhà có trị giá 367.005.000 đồng, căn nhà sau có giá trị 66.048.000 đồng, mái che bên hông trị giá 12.558.750 đồng, tổng cộng 445.611.750 đồng cất trên phần đất có diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 19.850 m², tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Buộc ông T1 có nghĩa vụ giao lại cho bà P quản lý, sử dụng 01 chiếc xe biển số 69D1 293.22. Ông T1 tiếp tục quản lý, sử dụng 01 bộ salon gỗ; 02 ly quăng, 05 bộ bàn, 01 chiếc bơm nước.
Buộc ông Trần Văn T1 có nghĩa vụ thanh toán cho bà Lê Thị P số tiền 31.908.875 đồng (ba mươi mốt triệu chín trăm lẻ tám nghìn tám trăm bảy mươi lăm đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu của bà P về việc yêu cầu phân chia phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế 2.617,5 m², tọa lạc tại ấp F L, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau và yêu cầu phân chia công sức đóng góp với số tiền 100.341.000 đồng.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của chị Trần Thị L3 đối với ông Trần Văn T1, bà Lê Thị P về việc công nhận cho bà tiếp tục quản lý, sử dụng đất phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế 2.617,5 m², trích đo từ thửa 559, tờ đồ số 6 (bản đồ chỉnh lý năm 2016), tọa lạc tại ấp F L, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Chị Trần Thị L3 và anh Hoàng Văn T3 có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho ông Trần Văn T1, bà Lê Thị P mỗi người 1,5 chỉ vàng 24K, chị Trần Bích T2 và anh Lê Phi C cùng có nghĩa vụ thanh toán cho ông T1 và bà P mỗi người 7,5 chỉ vàng 18K, chị Trần Thị H và anh Trương Văn P1 có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho ông T1 12.250.000 đồng, thanh toán cho bà P 7.750.000 đồng (đã đối trừ số tiền chị H, anh P1 đã trả cho bà P trước đó 4.500.000 đồng).
Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Ngày 09/8/2024 ông Trần Văn T1 kháng cáo, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, chia đôi phần đất diện tích 11.532,2m², không đồng ý nhận giá trị, đối với phần đất diện tích 20.205,4m², không đồng ý chia 20% giá trị, do phần đất của ông và vợ trước chưa chia thừa kế, đối với căn nhà yêu cầu nhận 60% do ông có công sức đóng góp nhiều hơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.
Về nội dung: Áp dụng 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Thới Bình.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tại phiên toà ông Trần Văn T1 vẫn giữ nguyên kháng cáo, ông T1 xác định tài sản do hai vợ chồng tạo lập thống nhất chia đôi còn phần đất diện tích 20.205,4m² là tài sản riêng của ông với vợ trước, vợ ông chết chưa chia di sản thừa kế cho các con nên không thể chia giá trị 20% cho bà Lê Thị P được, giá trị nhà cũng không đồng ý chia đôi.
[2] Qua xem xét nội dung kháng cáo thấy rằng:
Về giá trị căn nhà xây trên diện tích 20.205,4m² do ông Trần Văn T1 và bà Lê Thị P xây là tài sản chung của vợ chồng, ông T1 cho rằng ông có công sức đóng góp nhiều hơn ông phải nhận được 60% giá trị. Cụ thể, ông T1 cho rằng giá trị xây nhà có từ nguồn tài sản của ông và các con ông cũng có công đóng góp trong xây dựng nhà. Xét việc đóng góp của các con ông T1 như thế nào và bao nhiêu thì phía ông T1 không chứng minh được, vấn đề ông T1 đặt ra ông có công nhiều hơn, tuy nhiên cấp sơ thẩm khi giải quyết đã xem xét tài sản chung gồm phần đất diện tích 11.532,2m² ông Thông thống N3 chia đôi và các tài sản trong nhà và những người khác nợ vợ chồng ông T1 thì ông cũng thống nhất chia đôi, từ khi bà P về chung sống với ông T1 mới tích luỹ được tiền xây nhà. Như vậy, giá trị nhà cấp sơ thẩm chia đôi là phù hợp, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông T1.
Về phần dất diện tích 20.205,4m² bà P thống nhất là tài sản riêng của ông T1 và bà N2 là vợ trước của ông T1. Bà P về chung sống với ông T1 từ năm 2000 đến năm 2020 thì không còn sống chung và ly hôn là năm 2022, bà P và ông T1 cùng xây nhà và cải tại đất để xây dựng hạnh phúc gia đình. Quá trình canh tác, sử dụng đất từ làm rẫy sang nuôi tôm, quá trình làm rẫy ông T1 và bà P đã tích luỹ và chuyển nhượng được phần dất diện tích 11.532,2m². Việc cải tạo nuôi tôm và làm rẫy mới tạo được tài sản là đất, và xây nhà mới, tích luỹ được vàng. Bà P đã nhận được ½ giá trị do ông T1 và bà P cùng tạo nên từ phần đất của ông T1. Do đó không có căn cứ chia cho bà P 20% công sức đóng góp trong phần đất của ông T1.
Đối với phần đất diện tích 11.532,2m² ông T1 yêu cầu chia đôi không nhận giá trị, xét đây là là sản chung của vợ chồng, bà P đã không còn chung sống với ông T1 từ năm 2020 đến nay và ông T1 đang trực tiếp canh tác trên phần đất này, hiện ông T1 cũng có nhu cầu nhận đất để thuận tiện cho việc canh tác thửa đất diện tích 20.205,4m² do 02 phần đất này liền với nhau và đang sử dụng cống thoát nước nuôi tôm. Xét nhu cầu của ông T1 là hợp lý và hợp pháp do phần đất này là tài sản chung của ông T1 và bà P, việc chia đất cũng đảm bảo để bà P và ông T1 canh tác nên chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T1 chia đôi phần đất. Do chấp nhận kháng cáo của ông T1 nên căn cứ vào bản vẽ chia đôi phần đất theo mặt tiền và mặt hậu bằng nhau, do hình thể đất có độ xéo nên về diện tích sẽ chênh lệch, không bằng nhau.
[3] Bản án sơ thẩm khi tính chia tài sản tính tổng cộng số tiền hai bên được nhận và đối trừ số tiền giữa ông T1 và bà P phải trả lại cho nhau, không tuyên cụ thể từng vấn đề yêu cầu cầu nguyên đơn. Do sửa bản án sơ thẩm nên điều chỉnh cách tuyên cho rõ ràng.
[4] Như nhận định trên, không chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về việc giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5]Các Quyết định khác không có kháng cáo kháng nghị, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
[6] Án phí sơ thẩm điều chỉnh lại tương ứng với giá trị bà Lê Thị P được nhận và yêu cầu không được chấp nhận, cụ thể bà Lê Thị P được nhận ½ giá trị căn nhà là 189.781.875 đồng; 10.000.000 đồng bà P đang giữ; chiếc xe trị giá 22.000.000 đồng, giá trị ½ phần đất diện tích 2.617,5m² là 104.700.000 đ; Yêu cầu công sức đóng góp 400.000.000 đồng; ½ phần đất diện tích 11.532,2m² giá trị 447.532.000 đồng. Tổng cộng là 1.174.013.875 đồng. Bà Lê Thị P phải chịu là 47.220.416 đồng (36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng).
Án phí phúc thẩm ông Trần Văn T1 không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trần Văn T1 về yêu cầu không chia 20% công sức đóng góp của bà Lê Thị P và chia đôi phần đất diện tích 11.532,2m², không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn T1 về việc chia 40% giá trị nhà cho bà P. Sửa bản án sơ thẩm số 116/2024/HNGĐ-ST ngày 30/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình.
Căn cứ các Điều 33, 59, 62 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 466, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị P đối với ông Trần Văn T1 về việc yêu cầu chia tài sản sau khi ly hôn.
Chia đôi phần đất diện tích 11.532,2 m² cho ông Trần Văn T1 và bà Lê Thị P, đất tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Buộc Trần Văn T1 giao lại cho bà Lê Thị P quản lý các phần đất tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Cụ thể như sau:
- Phần thứ nhất: Diện tích 5879,4m². Các vị trí tiếp giáp:
Mặt tiền giáp Đường bê tông 3.0m tính từ mốc M7 đến M7' chiều dài 20m.
Mặt hậu giáp đất của ông Du Văn C1 tính từ mốc M11 đến M11' chiều dài 20m;
Cạnh giáp phần đất ông Trần Văn T1 được giao tính từ điểm M7' đến điểm M11' chiều dài 297,69m.
Cạnh giáp ông Du Văn C1 từ điểm M7 đến M11 chiều dài 296,55m.
- Phần đất thứ hai là bờ đất: Diện tích 36,4m²
Mặt tiền giáp Kênh Tám ngàn tính từ mốc M1 đến M1' chiều dài 19,10m;
Mặt hậu giáp Đường bê tông 3.0m tính từ mốc M2 đến M2' chiều dài 19,10m;
Cạnh Trái nhìn từ mặt tiền tính từ mốc M1 đến M2 chiều dài 2,31m;
Cạnh Phải nhìn từ mặt tiền tính từ mốc M1' đến M2' chiều dài 1,53m;
Ông Trần Văn T1 được nhận phần đất cụ thể như sau:
- Phần thứ nhất: Tổng diện tích 5584,2m². Các vị trí tiếp giáp:
Mặt tiền giáp Đường bê tông 3.0m tính từ mốc M7' đến M9 dài 18,20m.
Mặt hậu giáp đất của ông Du Văn C1 tính từ mốc M11' đến M4 dài 19,69m.
Cạnh giáp phần đất bà Lê Thị P tính từ mốc M11' đến M7’ dài 297,69m.
Cạnh giáp đất ông Trần Văn T1 từ mốc M4 đến M9 dài 255,06m.
- Phần đất thứ hai là bờ đất: Diện tích 32,2m.
Mặt tiền giáp Kênh Tám ngàn tính từ mốc M1' đến M5 dài 19,06m;
Măt hậu giáp Đường bê tông 3.0m tính từ mốc M2' đến M4 dài 19,09m;
Cạnh giáp đất bà Lê Thị P từ mốc M1' đến M2' dài 1,53m.
Cạnh giáp đất ông Trần Văn T1 M4 đến M5 dài 1,98m
(Theo bản vẽ trích đo hiện trạng ngày 19/11/2024 của Chi nhánh Công ty TNHH T7 tại Cà Mau)
Bà Lê Thị P, ông Trần Văn T1 được quyền liên hệ Cơ quan chuyên môn làm thủ tục chuyển tên quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Chia đôi giá trị căn nhà 379.563.000 đồng, buộc Ông Trần Văn T1 giao cho bà Lê Thị P số tiền 189.781.875 đồng (Một trăm tám mươi chín triệu, bảy trăm tám mươi mốt ngàn, tám trăm bảy mươi lăm đồng).
Ông Trần Văn T1 tiếp tục quản lý, sử dụng 01 căn nhà có trị giá 367.005.000 đồng, căn nhà sau có giá trị 66.048.000 đồng, mái che bên hông trị giá 12.558.750 đồng, tổng cộng 445.611.750 đồng xây trên phần đất có diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 19.850 m², tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Chia đôi số tiền 20.000.000 đồng. Buộc bà Lê Thị P giao cho Trần Văn T1 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
Không chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị P yêu cầu ông Trần Văn T1 thanh toán 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng) tiền công sức đóng góp.
Về lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án: Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Văn T1 được miễn án phí.
Bà Lê Thị P phải chịu án phí là 47.220.416 đồng đối với giá trị tài sản được nhận và yêu cầu không được chấp nhận.
Ngày 19/12/2022, bà Lê Thị P có nộp tạm ứng án phí số tiền 17.034.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003239. Ngày 21/6/2024, bà P có nộp tạm ứng án phí số tiền 10.000.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016301, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tổng cộng 27.034.000 đồng, được đối trừ bà P nộp tiếp 20.186.416 đồng (hai mươi triệu,một trăm tám mươi sáu ngàn, bốn trăm mười sáu đồng).
Các Quyết định khác không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Án phí phúc thẩm: Ông Trần Văn T1 được miễn.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Hải Hà |
Bản án số 34/2024/HNGĐ-PT ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
- Số bản án: 34/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: sửa bản án sơ thẩm về chia tài sản chung; công sức đóng góp
