Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--------

Bản án số: 34/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 14-11-2024

V/v: “Thay đổi người trực tiếp

nuôi con sau khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Cẩm Hồng

Các Thẩm phán:

  • 1. Bà Huỳnh Thị Phượng
  • 2. Ông Nguyễn Phước Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Nhã Mi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Dung- Kiểm sát viên.

Ngày 07 và 14 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 39/2024/TLPT- DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”.

Do Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số 183/2024/HNGĐ-ST ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐ-PT ngày 14 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Diệp Thị Mỹ N, sinh năm: 1989. Địa chỉ: số F, đường C, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Bị đơn:
    • 2.1. Ông Nguyễn Quốc T, sinh năm: 1984. Địa chỉ: Ấp H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
    • 2.2 Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1964. Địa chỉ: Ấp H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.
  3. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Diệp Thị Mỹ N có kháng cáo.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Đơn khởi kiện ngày 09/5/2022; Đơn khởi kiện bổ sung ngày 12/6/2024 và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Diệp Thị Mỹ N trình bày: Bà Diệp Thị Mỹ N và ông Nguyễn Quốc T đã được giải quyết ly hôn bằng Bản án Hôn nhân và gia đình phúc thẩm số: 09/2018/HNGĐ-PT ngày 02 tháng 4 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

Nội dung Bản án thể hiện:

Về con chung: Bà Diệp Thị Mỹ N được tiếp tục nuôi con tên Nguyễn Quốc H, sinh ngày 20 tháng 6 năm 2016; ông Nguyễn Quốc T được quyền tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Ngọc G, sinh ngày 21 tháng 4 năm 2014. Không đề cập vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con thực hiện theo quy định tại các Điều 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Bản án đang có hiệu lực thi hành.

Hiện nay ông T đã có vợ khác và đã có con chung. Do đó, bà khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con là buộc ông T và bà S giao con chung tên Nguyễn Ngọc G, sinh ngày 21 tháng 4 năm 2014 cho bà N được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên, bà N không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con.

Bị đơn ông ông Nguyễn Quốc T trình bày: Theo Bản án Hôn nhân gia đình phúc thẩm số: 09/2018/HNGĐ-PT ngày 02 tháng 4 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An thì ông được quyền tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Ngọc G, sinh ngày 21 tháng 4 năm 2014 và từ đó đến nay ông vẫn nuôi con và phát triển bình thường. Mặt khác, cháu G cũng có nguyện vọng sống với ông, nên ông không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà N. Ngoài ra, khi nuôi con ông cũng không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con.

Bị đơn bà Nguyễn Thị S trình bày: Bà là mẹ ruột của ông T, việc thay đổi nuôi con của bà N thì do bà N và ông T tự quyết định, bà không có ý kiến gì trong vụ án này. Đồng thời, xin vắng mặt.

Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 183/2024/HNGĐ-ST ngày 10/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa đã tuyên:

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 147, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 81, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Căn cứ Điều 26, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu bà Diệp Thị Mỹ N đối với ông Nguyễn Quốc T về việc “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án đối với các đương sự.

Ngày 10 tháng 07 năm 2024, bà Diệp Thị Mỹ N có đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, không rút đơn kháng cáo, bị đơn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày. Các bên đương sự không đề nghị thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo pháp luật tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xét thấy, thời gian cháu G ở với gia đình bên ông T thì người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu G là bà Nguyễn Thị S (mẹ ông T) do ông T trước đó phải chấp hành hình phạt tù về tội đánh bạc. Quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị S trình bày chuyện con cái giữa bà N và ông T do bà N và ông T tự quyết định. Trong thời gian sống bên gia đình ông T, tuy cháu G vẫn được bà S chăm sóc tốt, nhưng thực tế hiện tại ông T đã có vợ sau và có 03 đứa con chung với người vợ hiện nay, thêm 01 đứa con riêng của vợ ông T và bé G nữa là 05 bé. Xét về điều kiện kinh tế, ông T trình bày thu nhập bình quân của ông mỗi ngày 800.000đồng nhưng không có chứng cứ chứng minh. Bà N thì có thu nhập ổn định, hiện sống tại nhà riêng số F, đường C, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh và có 01 căn nhà tại ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An (bà N cung cấp được bảng lương tại Công ty B với mức thu nhập dao động từ 13-14 triệu đồng, thẻ tiết kiệm có kỳ hạn mang tên bà N).

Ngoài ra, việc chăm sóc nuôi dưỡng con là nghĩa vụ của cha mẹ và xét thấy việc giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng là xét cho quyền lợi của đứa trẻ. Hiện nay, bà N có cuộc sống ổn định và chỉ đang nuôi 01 đứa con chung giữa bà N và ông T là cháu Nguyễn Quốc H sinh ngày 20/6/2016, xét cháu H và cháu G là chị em ruột, bà N hiện có đủ điều kiện nuôi dưỡng 02 con,

hơn nữa cháu G là bé gái nên cần được sự chăm sóc dạy dỗ từ người mẹ nhiều hơn. Do đó, cần giao cháu G lại cho bà N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và ghi nhận sự tự nguyện của bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Từ những phân tích trên, xét thấy kháng cáo bà Diệp Thị Mỹ N là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Diệp Thị Mỹ N. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị sửa bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục:

[1.1] Đơn kháng cáo của bà Diệp Thị Mỹ N được làm đúng theo quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án và giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại Điều 26, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bà Diệp Thị Mỹ N, thấy rằng: Theo Bản án Hôn nhân và Gia đình phúc thẩm số: 09/2018/HNGĐ-PT ngày 02 tháng 4 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã Quyết định về con chung giao cho bà Diệp Thị Mỹ N được tiếp tục nuôi con tên Nguyễn Quốc H, sinh ngày 20 tháng 6 năm 2016; ông Nguyễn Quốc T được quyền tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Ngọc G, sinh ngày 21 tháng 4 năm 2014, không có cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con thực hiện theo quy định tại các Điều 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Bản án đang có hiệu lực thi hành. Xét thấy, sau khi bản án có hiệu lực đã giao con chung là Nguyễn Ngọc G cho ông Nguyễn Quốc T trực tiếp nuôi dưỡng thì cháu G vẫn phát triển tốt, ông T vẫn cho cháu G đi học văn hóa đầy đủ. Mặt khác, ông T nuôi cháu G từ năm 2018 đến nay, trong quá trình Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án đã hỏi ý kiến của cháu G vì cháu đã trên 07 tuổi, ý kiến của cháu có nguyện vọng muốn tiếp tục sống với ông T. Tại phiên tòa phúc thẩm, cháu G cũng có mặt và cũng trình bày ý kiến tha thiết muốn sống với ông T và bà S (bà nội) vì đã quen môi trường sống, cuộc sống ổn định, đi học quen trường và xác định vợ sau của ông T thương cháu hơn con ruột nên không muốn về sống với bà N. Ngoài ra, tại phiên tòa phúc thẩm bà N cũng xác định cháu G từ khi sống với ông T được

ông T chăm sóc tốt, cuộc sống ổn định hiện tại không có gì ảnh hưởng đến sinh hoạt và cuộc sống của cháu G, nhưng do ông T có vợ khác đã có 3 con chung và cháu G là bé gái nên mẹ muốn thay đổi để chăm sóc cháu tốt hơn. Hội đồng xét xử xét thấy, lời trình bày của bà N không phù hợp với nguyện vọng của cháu G và hiện tại ông T nuôi cháu trong điều kiện tốt, việc này bà N cũng thống nhất.

[3] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Diệp Thị Mỹ N là có căn cứ và phù hợp, nên kháng cáo bà Diệp Thị Mỹ N không có căn cứ chấp nhận, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm. Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa không có căn cứ nên không chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Diệp Thị Mỹ N phải chịu án phí do kháng cáo không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Diệp Thị Mỹ N.

Giữ nguyên Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số 183/2024/HNGĐ-ST ngày 10/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 148, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 81, Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ Điều 27, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu bà Diệp Thị Mỹ N đối với ông Nguyễn Quốc T về việc “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Diệp Thị Mỹ N phải chịu là 300.000đồng án phí, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà N đã nộp theo Biên lai thu số 0006468 ngày 07 tháng 3 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Diệp Thị Mỹ N phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà N đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0005102 ngày 11 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • -TAND cấp cao tại TP . HCM;
  • -VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Đức Hòa;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Hòa;
  • - Các đương sự
  • - Lưu HS, lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phùng Thị Cẩm Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HNGĐ-PT ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

  • Số bản án: 34/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger