|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN PHƯỚC TỈNH QUẢNG NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2024/HS-ST Ngày 08-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN PHƯỚC - TỈNH QUẢNG NAM
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trình Minh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Công Dung,
Ông Nguyễn Lương Xu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Phước tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Thanh Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam tiến hành mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 34/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST-HS ngày 23/10/2024 đối với bị cáo:
Lê Xuân D, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 12 tháng 6 năm 1997; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Nông; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; con ông Lê Xuân M, sinh năm 1972 và bà Phan Thị T, sinh năm 1971. Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai. Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không có. Nhân thân: Ngày 25/12/2017, bị Tòa án nhân dân Cấp cao tại Đà Nẵng xử phạt 05 năm tù về tội “Giết người”. Ngày 17/12/2020 chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/7/2024, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- Bà Lê Thị Tú C, sinh năm: 1980. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Võ Văn Đ, sinh năm: 1977. Có mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Vũ Tùng L, sinh năm: 1999, địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 20/7/2024, Lê Xuân D đi bẫy chim tại khu vực vườn nhà của bà Lê Thị Tú C thuộc thôn B, xã T, huyện T. Tại đây, Lê Xuân D nhìn thấy trong vườn nhà của bà Lê Thị Tú C có một cây Dó Bầu, vanh gốc khoảng 90cm, cao vút ngọn khoảng trên 10m, thân cây có nhiều lỗ nhỏ bị đục do côn trùng nên Lê Xuân D nghĩ cây Dó Bầu này có dầu trầm tự nhiên và có giá trị cao. Do đó, Lê Xuân D nảy sinh ý định cắt trộm cây Dó Bầu này đem về bán lấy tiền tiêu xài. Đến khoảng 23 giờ ngày 25/7/2024, Lê Xuân D cầm theo một cái cưa, loại cưa cầm tay rồi đi bộ từ nhà của Lê Xuân D đến vị trí cây Dó Bầu nêu trên, tại đây Lê Xuân D dùng cưa cầm tay cưa cắt sát gốc cây Dó Bầu làm cây ngã đổ xuống đất. Lúc này, Lê Xuân D cưa cắt đoạn thân cây Dó Bầu ra thành 03 đoạn:
Đoạn cây thứ nhất: có chiều dài 1,2m, đường kính mặt cắt lớn là 0,3m, chu vi mặt cắt lớn là 0,91m; đường kính mặt cắt nhỏ là 0,215m, chu vi mặt cắt nhỏ là 0,71m.
Đoạn cây thứ hai: có chiều dài 1,33m, đường kính mặt cắt lớn là 0,23m, chu vi mặt cắt lớn là 0,722m; một đầu tách thành hai nhánh có kích thước: nhánh 1: cách vị trí tách nhánh 0,1m, đường kính mặt cắt 0,17m, chu vi mặt cắt 0,5 m; nhánh 2: cách vị trí tách nhánh 0,13m, đường kính mặt cắt 0,17m, chu vi mặt cắt 0,51 m,
Sau đó, Lê Xuân D đi bộ về nhà nghỉ ngơi. Khoảng 30 phút sau, Lê Xuân D điều khiển xe mô tô biển số 92F1-042.21 đi đến chở 02 đoạn cây Dó Bầu này về nhà.
Đối với 02 đoạn ngọn cây Dó Bầu bỏ lại hiện trường (Đoạn cây thứ nhất: có chiều dài vút ngọn là 7,8m, đường kính mặt cắt 16cm, chu vi mặt cắt 50cm; Đoạn cây thứ hai: có chiều dài vút ngọn là 7,4m, đường kính mặt cắt 15cm, chu vi mặt cắt 50cm).
Đến sáng ngày 26/7/2024, Lê Xuân D lọt vỏ cây Dó Bầu ra rồi dùng cái nạo bằng kim loại để nạo giác lấy trầm. Đến chiều ngày 26/7/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T phát hiện, bắt giữ Lê Xuân D, thu giữ các vật chứng liên quan.
Tại Biên bản định giá và kết luận giá tài sản trong tố tụng hình sự số 20/2024/CA ngày 29 tháng 7 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:
- Cây Dó Bầu bị cắt đứt ngang thân cây tại vị trí cách mặt đất 22cm, phần gốc còn lại tại hiện trường có đường kính là 30cm, chu vi là 96cm, bề mặt gốc có màu trắng, xen giữa có nhiều rãnh, khoan gỗ đang tạo trầm có màu nâu sẫm. Giá trị phần gốc, rễ còn lại tại hiện trường là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).
- Hai đoạn thân cây Dó Bầu vút ngọn còn lại tại hiện trường trên thân hai đoạn cây Dó Bầu này có nhiều lỗ nhỏ bị đục do côn trùng và nhiều vết chặt bằng rựa làm bong gỗ, cụ thể:
- + Đoạn cây thứ nhất có chiều dài 7,8m, đường kính mặt cắt 16cm, chu vi mặt cắt 50cm có giá trị là 3.900.000 đồng (Ba triệu chín trăm nghìn đồng).
- + Đoạn cây thứ hai có chiều dài 7,4m, đường kính mặt cắt 15cm, chu vi mặt cắt 50cm có giá trị là 2.960.000 đồng (Hai triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng).
- Hai đoạn thân cây bị trộm cắp có kích thước:
- + Đoạn cây thứ nhất có chiều dài 1,2m, đường kính mặt cắt lớn là 0,3m, chu vi mặt cắt lớn là 0,91m; đường kính mặt cắt nhỏ là 0,215m, chu vi mặt cắt nhỏ là 0,71m có giá trị là 4.680.000 đồng (Bốn triệu sau trăm tám mươi nghìn đồng).
- + Đoạn cây thứ hai có chiều dài 1,33m, đường kính mặt cắt lớn là 0,23m, chu vi mặt cắt lớn là 0,722m; một đầu tách thành hai nhánh có kích thước: nhánh 1: cách vị trí tách nhánh 0,1m, đường kính mặt cắt 0,17m, chu vi mặt cắt 0,5m; nhánh 2: cách vị trí tách nhánh 0,13m, đường kính mặt cắt 0,17m, chu vi mặt cắt 0,51m có giá trị là 5.054.000 đồng (Năm triệu không trăm năm mươi bốn nghìn đồng).
Tổng giá trị cây Dó Bầu nêu trên là 18.594.000 đồng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Xuân D phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b,s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Lê Xuân D mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, xin lỗi gia đình bị hại và xin giảm nhẹ hình phạt trong quá trình lượng hình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Phước, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Xuân D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Vào đêm ngày 25 rạng sáng ngày 26/7/2024, tại vườn nhà của bà Lê Thị Tú C thuộc thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam bị cáo Lê Xuân D đã có hành vi lén lút dùng cưa cầm tay cưa cắt trộm cây Dó Bầu của vợ chồng bà Lê Thị Tú C. Theo Biên bản định giá và kết luận giá tài sản trong tố tụng hình sự số 20/2024/CA ngày 29/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận tổng giá trị là 18.594.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Vì vậy, hành vi của bị cáo Lê Xuân D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng số 37/CT-VKSTP-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Phước đã truy tố đối với bị cáo là có cơ sở, đúng pháp luật.
[2.2] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến tài sản của người khác mà còn gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội để có tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[2.3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thì thấy: mặc dù bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo đã một lần phạm tội, bị cáo thừa nhận có sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm, phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tác động gia đình đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra, bị hại có đơn và tại phiên tòa xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo có người thân là người có công với cách mạng, có hoàn cảnh gia đình khó khăn (đã được Ủy ban nhân dân xã T xác nhận), xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cho bị cáo.
[2.4] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã chủ động khắc phục bồi thường thiệt hại cho bị hại và bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[2.5] Về xử lý vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tạm giữ:
- - Cây Dó Bầu bị cắt đứt ngang thân cây tại vị trí cách mặt đất 22cm, phần gốc còn lại tại hiện trường có đường kính là 30cm, chu vi là 96cm, bề mặt gốc có màu trắng, xen giữa có nhiều rãnh, khoan gỗ đang tạo trầm có màu nâu sẫm;
- - 02 đoạn thân cây Dó Bầu vút ngọn còn lại tại hiện trường có kích thước: Đoạn cây thứ nhất có chiều dài 7,8m, đường kính mặt cắt 16cm, chu vi mặt cắt 50cm; Đoạn cây thứ hai có chiều dài 7,4m, đường kính mặt cắt 15cm, chu vi mặt cắt 50cm. Trên thân hai đoạn cây Dó Bầu này có nhiều lỗ nhỏ bị đục do côn trùng và nhiều vết chặt bằng rựa làm bong gỗ.
- - 02 đoạn thân cây Dó Bầu có kích thước: Đoạn cây thứ nhất có chiều dài 1,2m, đường kính mặt cắt lớn là 0,3m, chu vi mặt cắt lớn là 0,91m; đường kính mặt cắt nhỏ là 0,215m, chu vi mặt cắt nhỏ là 0,71m. Đoạn cây thứ hai có chiều dài 1,33m, đường kính mặt cắt lớn là 0,23m, chu vi mặt cắt lớn là 0,722m; một đầu tách thành hai nhánh có kích thước: nhánh 1: cách vị trí tách nhánh 0,1m, đường kính mặt cắt 0,17m, chu vi mặt cắt 0,5m; nhánh 2: cách vị trí tách nhánh 0,13m, đường kính mặt cắt 0,17m, chu vi mặt cắt 0,51m.
Các vật chứng này đã được trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - 01 xe mô tô loại xe: Sirius, màu đỏ đen, không manh, số khung: RLCS5C630BY544852, số máy: 5C63544903, gắn biển kiểm soát: 92F1-042.21, đã qua sử dụng; thuộc sở hữu của anh Vũ Tùng L cho bị cáo mượn sử dụng. Anh Vũ Tùng L không biết việc bị cáo sử dụng xe để đi thực hiện hành vi trộm cắp nên trả lại cho anh Vũ Tùng L là phù hợp.
- - 01 cái nạo, loại nạo trầm dài 0.255m có lưỡi bằng kim loại dài 0.165m, có cán bằng gỗ dài 0.09m; 01cái cưa, loại cưa cầm tay bằng kim loại, dài 51 cm, lưỡi được làm bằng kim loại, mặt trên có nhiều mấu nhọn dài 30cm, cán cưa được uống cong dài 21 cm được gắn bằng kim loại và nhựa màu đen, bản lưỡi cưa rộng nhất 5cm, nhỏ nhất 2cm; 01 con dao, lưỡi dao bằng kim loại, cán gỗ, trên cán có một khoan kim loại màu trằng, lưỡi dao dài: 0.265cm, bản dao rộng: 0.06m, cán dao dài: 0.13m, đường kính cán dao: 0.03m. Các vật chứng này được sử dụng trong quá trình gây ra sự việc; là vật không còn giá trị hoặc giá trị sử dụng không lớn; vì vậy, cần tịch thu tiêu huỷ.
[2.6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[2.7] Những vấn đề liên quan trong vụ án:
Đối với xe mô tô loại xe: Sirius, màu đỏ đen, không manh, số khung: RLCS5C630BY544852, số máy: 5C63544903, gắn biển kiểm soát: 92F1-042.21, đã qua sử dụng; thuộc sở hữu của anh Vũ Tùng L cho bị cáo mượn sử dụng. Anh Vũ Tùng L không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh Vũ Tùng L là phù hợp.
Quá trình điều tra, Lê Xuân D khai nhận vào ngày 24/7/2024 có sử dụng trái phép chất ma túy tại đường H, phường H, thành phố T. Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Quảng Nam đã chuyển thông tin đến Công an thành phố T để xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Xuân D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Lê Xuân D 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 26/7/2024).
2. Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tuyên xử: Trả lại cho anh Vũ Tùng L: 01 xe mô tô loại xe: Sirius, màu đỏ đen, không manh, số khung: RLCS5C630BY544852, số máy: 5C63544903, gắn biển kiểm soát: 92F1- 042.21, đã qua sử dụng.
Tịch thu, tiêu huỷ:
- - 01 cái nạo, loại nạo trầm dài 0.255m có lưỡi bằng kim loại dài 0.165m, có cán bằng gỗ dài 0.09m;
- - 01 cái cưa, loại cưa cầm tay bằng kim loại, dài 51 cm, lưỡi được làm bằng kim loại, mặt trên có nhiều mấu nhọn dài 30cm, cán cưa được uống cong dài 21 cm được gắn bằng kim loại và nhựa màu đen, bản lưỡi cưa rộng nhất 5cm, nhỏ nhất 2cm.
- - 01 con dao, lưỡi dao bằng kim loại, cán gỗ, trên cán có một khoan kim loại màu trằng, lưỡi dao dài: 0.265cm, bản dao rộng: 0.06m, cán dao dài: 0.13m, đường kính cán dao: 0.03m.
(Các vật chứng này hiện nay đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Phước theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/10/2024).
3. Về án phí: Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Xuân D phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 08/11/2024). Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trình Minh Hùng |
Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN PHƯỚC - TỈNH QUẢNG NAM về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 34/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN PHƯỚC - TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
