|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG-TỈNH GIA LAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2024/HNGĐ-ST |
Ngày: 16/9/2024 |
|
“V/v: “Ly hôn” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Ngọc;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Thị Cảnh;
- Ông Ngô Tấn Thắng;
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Sen - Thư ký Toà án nhân dân huyện KBang, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thuỳ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16/9/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kbang, Toà án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 136/2024/TLST-HNGĐ ngày 24/6/2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2024/QÐST-HNGĐ ngày 30/8/2024. Giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Mỹ P, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Tổ dân phố G, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai;
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu N, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Tổ dân phố I, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai;
Chị P có mặt và anh N vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên toà nguyên đơn chị Hồ Thị Mỹ P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh N qua thời gian quen biết tìm hiểu thì tự nguyện về chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai vào ngày 10/10/2023.
Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian ngắn thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, sau đó ngày càng trầm trọng hơn và không thể tự hòa giải được. Nguyên nhân chính là do vợ chồng không phù hợp về quan điểm sống, cách sống dẫn đến cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc. Từ tháng 3/2024 anh N liên tục gửi đơn thư tố cáo không đúng sự thật, làm ảnh hưởng đến uy tín và danh dự cho bản thân chị. Hiện chị và anh N đã không còn chung sống với nhau nữa, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay xét thấy không còn tình cảm, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống hôn nhân với anh N được nữa nên chị P đề nghị Tòa giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.
1
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Hữu N không có con chung nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị và anh Nguyễn Hữu N không có tài sản chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị và anh Nguyễn Hữu N có nợ chung nhưng tự thỏa thuận giải quyết với nhau nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 28/6/2024 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án bị đơn anh Nguyễn Hữu N trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Hồ Thị Mỹ P đến với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai vào ngày 10/10/2023.
Quá trình chung sống giữa vợ chồng anh không xảy mâu thuẫn như chị P trình bày; chị P trình bày nguyên nhân ly hôn là không đúng sự thật mà nguyên nhân chính là do chị P ngoại tình, không còn muốn chung sống với anh nữa nên mới yêu cầu xin ly hôn với anh. Vì anh có chứng cứ thể hiện việc chị P ngoại tình nên anh có viết đơn tố cáo người ngoại tình với chị P, anh không tố cáo chị P. Nay chị P yêu cầu xin ly hôn thì anh không đồng ý ly hôn với chị P vì anh vẫn còn tình cảm với chị P, anh không gây ra lỗi, anh có nguyện vọng được đoàn tụ gia đình.
Về con chung: Anh và chị P không có con chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh và chị Hồ Thị Mỹ P không có tài sản chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Anh và chị Hồ Thị Mỹ P có nợ chung nhưng tự thỏa thuận giải quyết với nhau nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Các tài liệu, chứng cứ được nguyên đơn giao nộp, gồm:
- 01 Giấy chứng nhận kết hôn mang tên Hồ Thị Mỹ P và Nguyễn Hữu N (bản chính);
- 01 Căn cước công dân mang tên Hồ Thị Mỹ P (bản pho to).
Các tài liệu, chứng cứ được bị đơn giao nộp, gồm:
- 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Hữu N (bản pho to).
Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh:
Chị P và anh N tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai vào ngày 10/10/2023. Điều này được thể hiện qua chứng cứ do chị P giao nộp là 01 Giấy chứng nhận kết hôn mang tên Hồ Thị Mỹ P và Nguyễn Hữu N (bản chính).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kbang phát biểu ý kiến:
Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Đối với nguyên đơn: Đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của đương sự được quy định tại Điều 6, Điều 96, Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Đối với bị đơn: Không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của đương sự được quy định tại Điều 6, Điều 96, Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 93, Điều 94, Điều 143, Điều 144, Điều 147, Điều 227; Điều 228; Điều 232; Điều 235; Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Áp dụng vào các Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
2
thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Hồ Thị Mỹ P được ly hôn với anh Nguyễn Hữu N.
Về án phí: Chị Hồ Thị Mỹ P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. (Có kèm theo bài phát biểu)
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Hồ Thị Mỹ P có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết về việc “Ly hôn” giữa chị và anh Nguyễn Hữu N, địa chỉ tại tổ dân phố I, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai. Theo quy định tại khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.
[2] Tại phiên tòa, mặc dù đã được Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai thông báo, tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng triệu tập anh Nguyễn Hữu N đến Tòa án để thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn nhưng anh N vắng mặt không có lý do và cũng không ủy quyền cho ai tham gia tố tụng. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại các Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Mỹ P và anh Nguyễn Hữu N tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 10/10/2023 tại Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai theo đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh N là hợp pháp.
[4] Về yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn: Chị P cho rằng trong quá trình chung sống giữa chị và anh N đã phát sinh những mâu thuẫn do không phù hợp về quan điểm sống, cách sống; anh N không tin tưởng chị nên đã nhiều lần gửi đơn tố cáo chị P ngoại tình đến nơi chị P làm việc và nhiều cơ quan khác dẫn đến chị P mất danh dự, uy tín, ảnh hưởng đến công việc và đời sống của chị. Từ đó dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Về phía anh N không đồng ý ly hôn với chị P vì anh cho rằng vẫn còn tình cảm với chị P. Toà án đã tiến hành hoà giải, động viên, khuyên giải để vợ chồng về đoàn tụ nhưng chị P vẫn kiên quyết xin ly hôn. Anh N cũng không đưa ra được biện pháp nào để cải thiện tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng. Bên cạnh đó, tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 16/8/2024 thể hiện chị P và anh N hiện nay đã không còn chung sống với nhau nữa. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị P và anh N đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, giữa chị P và anh N đã không còn sự tin tưởng, nghi ngờ lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ quy định tại các Điều 51 và Điều 56 của Luật HN&GĐ năm 2014 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị Mỹ P, xử cho chị Hồ Thị Mỹ P được ly hôn với anh Nguyễn Hữu N.
[5] Về con chung: Chị Hồ Thị Mỹ P và anh Nguyễn Hữu N không có con chung nên hai đương sự đều không yêu cầu Toà àn giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
3
[6] Về tài sản chung: Chị Hồ Thị Mỹ P và anh Nguyễn Hữu N không tài sản chung nên hai đương sự đều không yêu cầu Toà àn giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về nợ chung: Chị Hồ Thị Mỹ P và anh Nguyễn Hữu N có nợ chung nhưng tự thỏa thuận giải quyết với nhau nên hai đương sự đều không yêu cầu Toà àn giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Chị Hồ Thị Mỹ P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 93, Điều 94, Điều 143, Điều 144, Điều 147, Điều 227; Điều 228; Điều 232; Điều 235; Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hồ Thị Mỹ P.
Xử cho chị Hồ Thị Mỹ P được ly hôn với anh Nguyễn Hữu N.
[2] Về án phí: Chị Hồ Thị Mỹ P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị P đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số: 0002233 ngày 24/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.
[3] Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 16/9/2024) nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Đối với bị đơn được quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm kể từ khi nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Bản án này được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Ngọc |
4
Bản án số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG, TỈNH GIA LAI về ly hôn
- Số bản án: 34/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
