Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ ĐỨC PHỔ

TỈNH QUẢNG NGÃI

Bản án số: 35/2024/HNGĐ-ST

Ngày 10 - 9 - 2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp về

nuôi con chung khi ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Trung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Hòa và ông Võ Cư

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên toà: Ông Trần Phương Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 117/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Dương Tô Hoàng L, sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ dân phố C, phường N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; Vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Thành H, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ dân phố C, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi; Vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 09/8/2024 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Dương Tô Hoàng L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Thành H tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện Đ (nay là phường P, thị xã Đ), tỉnh Quảng Ngãi vào năm 2016. Trong thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, thường xuyên cãi vã; vợ chồng không sống chung từ năm 2022 đến nay. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Thành H.

Về con chung: Vợ chồng chị có 01 người con chung tên Nguyễn Dương Gia T, sinh ngày 02/10/2016 hiện nay ở với cha. Khi ly hôn chị đồng ý giao con chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết

Tại biên bản lấy lời khai ngày 12 tháng 8 năm 2024, anh Nguyễn Thành H trình bày:

Anh và chị Dương Tô Hoàng L tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2016 tại UBND xã P, huyện Đ (nay là phường P, thị xã Đ), tỉnh Quảng Ngãi. Trong thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, đôi lúc anh nóng giận không kiềm chế được có hành vi đánh chị L; vợ chồng không sống chung từ năm 2022 đến nay, không còn tình cảm, không còn quan tâm nhau. Chị L yêu cầu ly hôn thì anh cũng đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng anh có 01 người con chung tên Nguyễn Dương Gia T, sinh ngày 02/10/2016 hiện nay ở với anh. Khi ly hôn anh yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con, không yêu cầu chị L cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Dương Tô Hoàng L. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Dương Tô Hoàng L được ly hôn anh Nguyễn Thành H; về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Dương Gia T cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục; anh H không yêu cầu cấp dưỡng cho con nên không xét; về tài sản chung: Chị L và anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; về nợ chung: chị L, anh H khai không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn chị Dương Tô Hoàng L có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Thành H có nơi cư trú tại phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Về hôn nhân: Chị Dương Tô Hoàng L và anh Nguyễn Thành H tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 07 tháng 6 năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ (nay là phường P, thị xã Đ), tỉnh Quảng Ngãi; vì vậy quan hệ hôn nhân giữa chị L và anh H là hoàn toàn hợp pháp. Trong thời gian chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường cãi vã, anh H thừa nhận có hành vi bạo lực gia đình; vợ chồng không sống chung từ năm 2022 đến nay. Chị L xác định vợ chồng không còn tình cảm, không còn quan tâm gì nhau. Tòa án đã mở phiên hòa giải nhưng anh H và chị L không tham gia và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh H đã ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ vào Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Dương Tô Hoàng L được ly hôn anh Nguyễn Thành H.

[4] Về con chung: Vợ chồng chị Dương Tô Hoàng L và anh Nguyễn Thành H có 01 con chung tên là Nguyễn Dương Gia T, sinh ngày 02/10/2016 hiện nay ở với anh H. Nếu vợ chồng ly hôn thì chị L đồng ý giao con chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; anh H yêu cầu nuôi con khi vợ chồng ly hôn, không yêu cầu chị L cấp dưỡng cho con. Xét ý kiến của chị L, anh H về nuôi con chung khi ly hôn, thấy rằng: Cháu T có nguyện vọng ở với cha; từ năm 2022 chị L và anh H không sống chung đến nay, con ở với cha. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung, Hội đồng xét xử nhận thấy nên giao cháu T cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp, anh H không yêu cầu cấp dưỡng cho con nên không xét.

[5] Về tài sản chung: Chị L, anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

[6] Về nợ chung: Chị L, anh H khai không có nợ chung nên không xem xét.

[7] Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Dương Tô Hoàng L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

[8] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q,

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho chị Dương Tô Hoàng L được ly hôn anh Nguyễn Thành H.
  2. Về con chung: Giao con Nguyễn Dương Gia T, sinh ngày 02/10/2016 cho anh Nguyễn Thành H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.

    Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đối với con chung mà không ai được cản trở. Sau khi ly hôn đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.

  3. Về tài sản chung: Chị L, anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
  4. Về nợ chung: Chị L, anh H khai không có nợ chung nên không xem xét.
  5. Về án phí: Chị Dương Tô Hoàng L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn; được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí số 0002692 ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Viện KSND thị xã Đức Phổ;
  • - Chi cục THADS thị xã Đức Phổ;
  • - UBND phường Phổ Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Minh Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HNGĐ-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn

  • Số bản án: 35/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lượng khởi kiện ly hôn Hưng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger