Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NAM ĐÀN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HNGĐ-ST

Ngày 30-8-2024

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vương Hoàng Hào.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hoàng Thế Công.
  2. Ông Đinh Văn Vợi.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Đào Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nam Đàn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 79/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024, giữa:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1972; nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ C, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1977; Địa chỉ cư trú: Xóm C, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:

Về hôn nhân: Ông kết hôn với bà Phạm Thị L vào ngày 13 tháng 11 năm 1999, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 4 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình, quan điểm sống không hợp nhau. Năm 2004, do mâu thuẫn trầm trọng nên ông đi vào tỉnh Gia Lai sinh sống, làm việc từ đó cho đến nay, còn bà L và con chung sinh sống ở Nghệ An, hai vợ chồng ly thân, không liên lạc, hỏi han, quan tâm, chăm sóc nhau. Nay ông không còn tình cảm nên yêu cầu ly hôn với bà Phạm Thị L.

Về con chung: Ông và bà Phạm Thị L có 01 con chung Nguyễn Văn Q, sinh ngày 28 tháng 7 năm 2000. Con chung đã đủ tuổi trường thành, phát triển mọi mặt bình thường nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và khoản nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn đã tiến hành thụ lý vụ án, đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn bà Phạm Thị L vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án nên không có ý kiến về nội dung vụ án.

Kết quả xác minh bà Nguyễn Thị L1 là mẹ đẻ của Phạm Thị L như sau: Chị Phạm Thị L đang đi làm trong miền N, thường xuyên liên lạc với bà, bà cam kết nhận các văn bản của Tòa án và thông báo lại cho chị L. Chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Văn H kết hôn năm 1999, sau khi chung sống được khoảng 5 năm thì mâu thuẫn, do tính tình hai bên khác nhau, hai người ly thân nhau từ năm 2004 cho đến nay, không liên lạc, hỏi han, quan tâm lẫn nhau. Bà cho biết nguyện vọng của chị L là đồng ý ly hôn anh H. Trong thời kỳ hôn nhân, hai vợ chồng có một con chung là Nguyễn Văn Q, sinh năm 2000, ở với bà và mẹ L, cháu đủ tuổi trưởng thành, đang đi làm xa nhà. Về tài sản và khoản nợ chị L không yêu cầu giải quyết.

Kết quả xác minh chính quyền địa phương như sau: Chị Phạm Thị L và anh Nguyễn Văn H kết hôn năm 1999, đăng ký tại UBND xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân đúng quy định pháp luật. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống một thời gian thì mâu thuẫn, nguyên nhân địa phương không nắm rõ. Hai vợ chồng đã ly thân nhau, ông H chuyển sinh sống tại tỉnh Gia Lai, bà L đi làm thuê, thi thoảng có mặt tại địa phương. Hai vợ chồng có 01 con chung Nguyễn Văn Q, sinh năm 2000, cháu đủ tuổi trưởng thành, hiện đi làm tại thành phố V, tỉnh Nghệ An.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm quyền Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, tống đạt văn bản tố tụng đúng quy định. Trong quá trình điều tra thu thập chứng cứ Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Các Điều 28, 35, 39, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; xử:

Về hôn nhân: Ông Nguyễn Văn H được ly hôn với bà Phạm Thị L.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.

Về án phí: Ông Nguyễn Văn H phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về pháp luật tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bà Phạm Thị L có địa chỉ thường trú tại xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An, đây là tranh chấp hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng:

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Phạm Thị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng giải quyết, vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa sơ thẩm không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Nguyên đơn ông Nguyễn Văn H vắng mặt có đơn xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về pháp luật nội dung:

[2.1] Về hôn nhân:

Ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị L tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 13 tháng 11 năm 1999 tại UBND xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An, theo bản trích lục kết hôn số 119/TLKH-BS ngày 08/7/2019 của UBND xã K, đây là hôn nhân hợp pháp, đúng quy định, được pháp luật bảo vệ, phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình, quan điểm sống không hợp nhau, vợ chồng ly thân từ năm 2004 cho đến nay, không liên lạc, hỏi han, quan tâm nhau, chăm sóc nhau. Ông H khẳng định không còn tình cảm với bà L. Về phía bà L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ (gửi văn bản tố tụng triệu tập, làm việc qua mẹ đẻ bà Nguyễn Thị L1, gọi điện thoại di động số thuê bao của bà L) nhưng bà không tham gia giải quyết vụ án điều đó thể hiện bà từ bỏ các quyền và nghĩa vụ của mình, không có ý thức hòa giải đoàn tụ vợ chồng. Xét thấy vợ chồng đã không còn chung sống, quan tâm, chăm sóc với nhau là không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình làm cho hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, cần xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn H đối với bà Phạm Thị L.

[2.2] Về con chung: Ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị L có 01 con chung Nguyễn Văn Q, sinh ngày 28 tháng 7 năm 2000. Ly hôn, ông H có ý kiến về con chung đã đủ tuổi trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử nhận thấy con chung đã đủ tuổi trưởng thành, có quyền nghĩa vụ công dân đầy đủ, cháu phát triển bình thường nên không xem xét giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung và các khoản nợ chung: Nguyên đơn ông H không yêu cầu. Bị đơn bà L không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp, có yêu cầu thì khởi kiện bằng một vụ án khác.

[2.4] Về án phí: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

[3] Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 19, 51 của Luật Hôn nhân và Gia đình; các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H.

1. Về hôn nhân: Ông Nguyễn Văn H được ly hôn với bà Phạm Thị L.

2. Về con chung: Con chung Nguyễn Văn Q, sinh ngày 28 tháng 7 năm 2000 đã đủ tuổi trưởng thành nên không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung và khoản nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp có yêu cầu chia tài sản thì giải quyết bằng vụ án khác.

4. Về án phí: Ông Nguyễn Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001674 ngày 22 tháng 7 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

5. Về quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị L đều vắng mặt có quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Nam Đàn;
  • - Chi cục THADS huyện Nam Đàn;
  • - UBND xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VPTA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vương Hoàng Hào

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN về ly hôn

  • Số bản án: 34/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HNGD Hong Ly
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger