Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/KDTM-ST

Ngày: 22-8-2024

V/v: Tranh chấp

Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Công Hoa

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Kim Hoàng
  2. Bà Vũ Thị Hiệp

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thư Nhàn – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Anh Đào – Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 17/2024/TLST-KDTM ngày 28/3/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 200/2024/QĐXXST-KDTM ngày 26 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng N; địa chỉ trụ sở: B L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội;
  2. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Triều Mạnh Đ, sinh năm: 1983; địa chỉ: 5 Hồ N, Phường B, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số 175/UQ-NHNo6-KHKD ngày 21/6/2023) (có mặt).

  3. Bị đơn: Công ty TNHH L; địa chỉ: B M, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Bùi Lê M, sinh năm 1983; địa chỉ: Căn hộ S chung cư S, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 17/6/2024) (có đơn xin vắng mặt).

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Bùi Lê M, sinh năm 1983; địa chỉ: Căn hộ S chung cư S, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn là Ngân hàng N do ông Triều Mạnh Đ là đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 23/3/2020, Ngân hàng N – Chi nhánh 6 và Công ty TNHH L đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 1605-LAV-202000014 với giá trị hợp đồng là 30.000.000.000 đồng với phương thức cho vay: hạn mức tín dụng, lãi suất cho vay là 9,5%/năm, phương thức áp dụng: lãi suất biến đổi. Lãi suất cho vay có điều chỉnh định kỳ 3 tháng/lần kể từ ngày giải ngân bằng trần lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng trả lãi sau bằng đồng Việt Nam theo quy định của Tổng giám đốc Ngân hàng N (viết tắt là A). Ngân hàng sẽ gửi thông báo điều chỉnh lãi suất bằng văn bản cho Công ty và văn bản này được xem như Phụ lục hợp đồng tín dụng gắn liền với hợp đồng tín dụng này. Lãi suất cho vay áp dụng với dư nợ gốc bị quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Hợp đồng với mục đích vay là bổ sung vốn kinh doanh. Thời hạn vay là 12 tháng kể từ ngày 23/3/2020 và thời hạn cho vay của mỗi khoản nợ vay tối đa là 06 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân vốn vay và được ghi trên từng Giấy nhận nợ. Kế hoạch trả lãi được thực hiện vào hàng tháng.

Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng nêu trên của Công ty TNHH L, ông Bùi Lê M đã đồng ý dùng các tài sản thuộc quyền sử dụng, quyền sở hữu của mình thế chấp cho Ngân hàng. Cụ thể, ông M đã thế chấp tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 1101, tờ bản đồ số 1 tại địa chỉ thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CC 968166 số vào sổ cấp GCN CH 00338 do UBND huyện H cấp ngày 27/11/2015) theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1605-LCL-201900018 ngày 05/3/2019.

Trong Hợp đồng tín dụng nêu trên thì Ngân hàng đã tạo điều kiện để bị đơn có thể sử dụng tốt nguồn vốn vay và thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ theo kỳ hạn đã ký nhưng Công ty TNHH L chỉ thanh toán nợ gốc và lãi cho Ngân hàng số tiền gốc 0 đồng, lãi là 1.725.442.167 đồng. Tính đến ngày 22/8/2024, tổng dư nợ của Công ty TNHH L là 44.834.525.478 đồng, trong đó nợ gốc là 30.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 6.210.715.068 đồng, nợ lãi quá hạn là 7.680.982.192 đồng, nợ lãi chậm trả là 942.828.218 đồng. Ngân hàng đã nhiều lần gửi thư mời làm việc cũng như đôn đốc nhắc nợ, tạo mọi điều kiện để Công ty TNHH L thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên đến nay bị đơn vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi cho Ngân hàng, liên tiếp vi phạm nghĩa vụ đã cam kết với Ngân hàng, cố tình không hợp tác, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không phối hợp xử lý tài sản bảo đảm làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của A, gây khó khăn lớn cho công tác thu hồi vốn của Nhà nước và quá trình xử lý, thu hồi nợ của A.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty TNHH L phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng số 1605-LAV-202000014 ngày 23/3/2020 toàn bộ số tiền tạm tính (do nợ lãi tiếp tục phát sinh) đến ngày 22/8/2024 là 44.834.525.478 đồng, trong đó nợ gốc là 30.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 6.210.715.068 đồng, nợ lãi quá hạn là 7.680.982.192 đồng, nợ lãi chậm trả là 942.828.218 đồng. Công ty TNHH L phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp

đồng tín dụng nêu trên kể từ ngày tiếp theo là ngày 23/8/2024 cho đến ngày thực tế trả hết nợ. Bên cạnh đó, tài sản bảo đảm cho Hợp đồng tín dụng nêu trên là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 1101, tờ bản đồ số 1, tại địa chỉ thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, chủ sở hữu là ông Bùi Lê M. Nếu bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ cho đến khi trả hết nợ vay cho A, trường hợp phát mãi tài sản thế chấp không đủ để trả nợ thì bị đơn có nghĩa vụ trả tiếp tục trả nợ cho đến khi trả hết nợ vay cho A. Đối với chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, hiện tại Ngân hàng đã tạm ứng cho Tòa án, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, đề nghị Công ty TNHH L phải hoàn trả lại chi phí này cho Ngân hàng.

Bị đơn Công ty TNHH L do ông Bùi Lê M là đại diện theo ủy quyền có đơn xin vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Bùi Lê M có đơn xin vắng mặt nhưng có lời khai tại tự khai ngày 31/5/2024 như sau:

Tài sản thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ vay cho Hợp đồng tín dụng số 1605-LAV-202000014 ngày 23/3/2020 ký giữa Ngân hàng N – Chi nhánh 6 và Công ty TNHH L là của ông Bùi Lê M (đã được cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CC 968166 số vào sổ cấp GCN CH 00338 do UBND huyện H cấp ngày 27/11/2015, cập nhật thay đổi ngày 02/7/2018). Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1605-LCL-201900018 ngày 05/3/2019, theo đó ông M bảo lãnh cho khoản vay 30.000.000.000 đồng của Hợp đồng tín dụng nói trên. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Công ty TNHH L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, trong trường hợp Công ty TNHH L vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho A theo thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng nói trên thì ông đồng ý phát mãi tài sản nói trên để thanh toán cho khoản vay theo như Hợp đồng thế chấp đã ký. Do vậy, đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thì ông đồng ý giải quyết theo quy định của pháp luật, tuy nhiên hiện nay thị trường bất động sản đang gặp khó khăn nên ông cần có thời gian để tự bán tài sản trả nợ cho A. Đề nghị Ngân hàng và Tòa án cho ông thời gian để bán tài sản trả nợ.

Ông M xác định trên thửa đất thế chấp không có công trình xây dựng cũng như không có ai sinh sống.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 tham dự phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về trình tự thủ tục tố tụng dân sự: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử; Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tại phiên tòa sơ thẩm, đảm bảo nguyên tắc xét xử; người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N:

Buộc Công ty TNHH L phải thanh toán cho Ngân hàng N số tiền theo Hợp đồng tín dụng số 1605-LAV-202000014 ngày 23/3/2020, tính đến ngày 22/8/2024 là 44.834.525.478 đồng, trong đó nợ gốc là 30.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 6.210.715.068 đồng, nợ lãi quá hạn là 7.680.982.192 đồng, nợ lãi chậm trả là 942.828.218 đồng.

Kể từ ngày 23/8/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ, Công ty TNHH L còn phải trả cho Ngân hàng N các khoản lãi, lãi phạt, phí liên quan phát sinh cho đến khi trả hết nợ vay.

Trường hợp Công ty TNHH L không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả số tiền nêu trên thì Ngân hàng N được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất thửa đất số 1101, tờ bản đồ số 1 tại địa chỉ thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CC 968166 số vào sổ cấp GCN CH 00338 do UBND huyện H cấp ngày 27/11/2015 để Ngân hàng thu hồi nợ, trường hợp phát mãi tài sản thế chấp không đủ để trả nợ thì bị đơn có nghĩa vụ trả tiếp tục trả nợ cho đến khi trả hết nợ vay cho Ngân hàng N.

Bị đơn phải chịu án phí theo quy định Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, các lời khai, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Ngân hàng N (gọi tắt là Ngân hàng) khởi kiện Công ty TNHH L trả nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng số 1605-LAV-202000014 ngày 23/3/2020 là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Căn cứ khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đây là loại vụ việc tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn Ngân hàng N – Chi nhánh 6 có trụ sở tại 5 Hồ N, Phường B, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 21/6/2023, nguyên đơn đã có Đơn đề nghị về việc khởi kiện tại Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục tố tụng: Người đại diện hợp pháp của bị đơn đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Bùi Lê M có đơn xin vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn Công ty TNHH L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Lê M.

[3] Về yêu cầu của đương sự:

[3.1] Về yêu cầu trả nợ do vi phạm nghĩa vụ thanh toán:

Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa: Ngày 23/3/2020, Ngân hàng N – Chi nhánh 6 và Công ty TNHH L đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 1605-LAV-202000014 với giá trị hợp đồng là 30.000.000.000 đồng, lãi suất cho vay là 9,5%/năm, lãi suất cho vay áp dụng với dư nợ gốc bị quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Hợp đồng với mục đích vay là bổ sung vốn kinh doanh. Thời hạn vay là 12 tháng kể từ ngày 23/3/2020 và thời hạn cho vay của mỗi khoản nợ vay tối đa là 06 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân vốn vay và được ghi trên từng Giấy nhận nợ. Kế hoạch trả lãi được thực hiện vào hàng tháng.

Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng nêu trên của Công ty TNHH L, ông Bùi Lê M đã đồng ý dùng các tài sản thuộc quyền sử dụng, quyền sở hữu của mình thế chấp cho Ngân hàng. Cụ thể, ông Bùi Lê M đã thế chấp tài sản bảo đảm là Quyền sử dụng đất thửa đất số 1101, tờ bản đồ số 1 tại địa chỉ thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CC 968166 số vào sổ cấp GCN CH 00338 do UBND huyện H cấp ngày 27/11/2015, cập nhật thay đổi ngày 02/7/2018 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1605-LCL-201900018 ngày 05/3/2019.

Xét, các bên tham gia ký kết hợp đồng đều có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự 2015 nên Hợp đồng tín dụng số 1605-LAV-202000014 ký ngày 28/4/2020 phát sinh hiệu lực pháp luật. Sau khi ký kết hợp đồng Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty TNHH L số tiền vay là 30.000.000.000 đồng theo các Giấy nhận nợ số: 1605-LDS-202000057 ngày 23/3/2020, 1605-LDS-202000061 ngày 24/3/2020, 1605-LDS-202000066 ngày 26/3/2020, 1605-LDS-202000068 ngày 27/3/2020, 1605-LDS-202000071 ngày 30/3/2020, 1605-LDS-202000079 ngày 31/3/2020, 1605-LDS-202000083 ngày 01/4/2020, 1605-LDS-202000087 ngày 03/4/2020.

Căn cứ vào công văn ngày 23/9/2022 về việc thông báo chuyển nợ quá hạn và xử lý tài sản bảo đảm của Ngân hàng gửi cho Công ty TNHH L thì bị đơn Công ty TNHH L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ.

Ngoài ra, với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Bùi Lê M có bản khai xác nhận việc ông sử dụng tài sản của mình là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 1101, tờ bản đồ số 1 tại địa chỉ thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thế chấp cho Ngân hàng để đảm bảo nghĩa vụ vay cho Hợp đồng tín dụng số 1605-LAV-202000014 ngày 23/3/2020 là của ông Bùi Lê M (theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1605-LCL-201900018 ngày 05/3/2019). Trong quá trình thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Công ty TNHH L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Nay Ngân hàng khởi kiện Công ty TNHH L tại Tòa án nhân dân Quận 6 để yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì ông M đồng ý phát mãi tài sản nói trên để thanh toán cho khoản vay theo như Hợp đồng thế chấp đã ký, ông M chỉ xin kéo dài thời gian để ông bán tài sản trả nợ cho Ngân hàng.

Căn cứ khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”

Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của Tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.

Bị đơn Công ty TNHH L ủy quyền cho ông Bùi Lê M được tòa quyết định các vấn đề trong quá trình giải quyết vụ án, tuy nhiên ông M xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không ghi nhận được ý kiến. Hội đồng xét xử chấp nhận các tài liệu chứng cứ, lời khai của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án. Như vậy, bị đơn Công ty TNHH L đã vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận nên phải chịu trách nhiệm dân sự đối với nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 351 của Bộ luật dân sự.

Từ các phân tích trên, xét thấy yêu cầu của Ngân hàng buộc bị đơn Công ty TNHH L phải thanh toán số tiền theo Hợp đồng tín dụng số 1605-LAV-202000014 ngày 23/3/2020, tạm tính đến ngày 22/8/2024 là 44.834.525.478 đồng, trong đó nợ gốc là 30.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 6.210.715.068 đồng, nợ lãi quá hạn là 7.680.982.192 đồng, nợ lãi chậm trả là 942.828.218 đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.2] Về yêu cầu tiền lãi sau ngày xét xử sơ thẩm: Ngân hàng yêu cầu bị đơn Công ty TNHH L tiếp tục chịu các khoản lãi, lãi phạt, phí liên quan phát sinh kể từ ngày 09/7/2024 cho đến khi trả hết nợ vay do các bên thoả thuận trong hợp đồng tín dụng và phù hợp quy định tại Điều 7 và Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 01/11/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất phạt nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.3] Về việc xử lý tài sản bảo đảm:

Để đảm bảo cho khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số 1605-LAV-202000014 ngày 23/3/2020, ông Bùi Lê M đã ký Hợp đồng thế chấp số 1605-LCL-201900018 ngày 05/3/2019 với Ngân hàng N - Chi nhánh 6, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1101, tờ bản đồ số 1, diện tích thế chấp: 1216,6m² tại địa chỉ: Thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CC 968166 số vào sổ cấp GCN CH 00338 do UBND huyện H cấp ngày 27/11/2015. Hợp đồng thế chấp được công chứng tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 06/3/2019, đảm bảo đúng theo quy định pháp luật nên hợp pháp.

Căn cứ khoản 7 Điều 323 và khoản 1 Điều 299 Bộ luật Dân sự 2015 trong trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đúng thỏa thuận thì tài sản thế chấp sẽ được xử lý theo Điều 303 và Điều 307 Bộ luật Dân sự 2015. Do vậy, nguyên đơn yêu cầu trong trường hợp bị đơn không trả hoặc trả không đủ thì nguyên đơn được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ dư nợ, trường hợp

phát mãi tài sản thế chấp không đủ để trả nợ thì bị đơn có nghĩa vụ trả tiếp tục trả nợ cho đến khi trả hết nợ vay cho Ngân hàng N là có căn cứ chấp nhận.

[4] Theo quy định tại khoản 3.1.6 Điều 3 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1605-LCL-201900018 ngày 05/3/2019 thì quyền của ông Bùi Lê M được: “Nhận lại giấy tờ về tài sản thế chấp khi hoàn thành nghĩa vụ được bảo đảm nêu tại Điều 2 của Hợp đồng này hoặc thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác”. Đồng thời để đảm bảo quyền lợi của các bên, ngay khi Công ty TNHH L trả hết nợ cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng số 1605-LAV-202000014 ngày 23/3/2020 thì Ngân hàng N phải trả lại cho ông Bùi Liên M1 bản chính giấy tờ của tài sản thế chấp là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CC 968166, số vào sổ cấp GCN số: CH00338 do UBND huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 27/11/2015.

[5] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Xét thấy việc xem xét, thẩm định tại chỗ là cần thiết cho việc giải quyết vụ án và Ngân hàng không tự nguyện chịu thay cho bị đơn khoản tiền này. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận, cho nên bị đơn có nghĩa vụ trả lại 10.000.000đ (mười triệu đồng) cho nguyên đơn chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, là phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 tại phiên tòa là có căn cứ nên cần được chấp nhận.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn Công ty TNHH L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu trả nợ khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số 1605-LAV-202000014 ngày 23/3/2020 đã được Tòa án chấp nhận;

Nguyên đơn Ngân hàng N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 228, Điều 235, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 297, 298, 299, 317, 318, 322, 323, 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Căn cứ Luật thi hành án dân sự;

- Căn cứ Điều 7, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 01/11/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất phạt;

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N:
  2. Buộc Công ty TNHH L phải thanh toán cho Ngân hàng N số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số 1605-LAV-202000014 ngày 23/3/2020, tính đến ngày 22/8/2024 là 44.834.525.478đ (bốn mươi bốn tỷ tám trăm ba mươi bốn triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn bốn trăm bảy mươi tám đồng), trong đó nợ gốc là 30.000.000.000₫ (ba mươi tỷ đồng), nợ lãi trong hạn là 6.210.715.068đ (sáu tỷ hai trăm mười triệu bảy trăm mười lăm nghìn không trăm sáu mươi tám đồng), nợ lãi quá hạn là 7.680.982.192đ (bảy tỷ sáu trăm tám mươi triệu chín trăm tám mươi hai nghìn một trăm chín mươi hai đồng), nợ lãi chậm trả là 942.828.218đ (chín trăm bốn mươi hai triệu tám trăm hai mươi tám nghìn hai trăm mười tám đồng).

    Thời hạn thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày 23/8/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ, Công ty TNHH L còn phải trả cho Ngân hàng N các khoản lãi, lãi phạt, phí liên quan phát sinh cho đến khi trả hết nợ vay. Trường hợp tại Hợp đồng tín dụng số 1605-LAV-202000014 ngày 23/3/2020 có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất sẽ được tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án.

    Trường hợp Công ty TNHH L không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả số tiền nêu trên thì Ngân hàng N được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 1101, tờ bản đồ số 1, diện tích 1216,6m² tại địa chỉ thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CC 968166 số vào sổ cấp GCN CH 00338 do UBND huyện H cấp ngày 27/11/2015) để Ngân hàng thu hồi nợ, trường hợp phát mãi tài sản thế chấp không đủ để trả nợ thì bị đơn có nghĩa vụ trả tiếp tục trả nợ cho đến khi trả hết nợ vay cho Ngân hàng N.

  3. Trường hợp Công ty TNHH L trả hết nợ cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng số 1605-LAV-202000014 ngày 23/3/2020 thì Ngân hàng N phải trả lại cho ông Bùi Liên M1 bản chính giấy tờ của tài sản thế chấp là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CC 968166 số vào sổ cấp GCN CH 00338 do UBND huyện H cấp ngày 27/11/2015.
  4. Công ty TNHH L có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng N tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp là 10.000.000đ (mười triệu đồng) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  5. Các bên thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  6. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
    1. Công ty TNHH L phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 152.834.525₫ (một trăm năm mươi hai triệu tám trăm ba mươi bốn nghìn năm trăm hai mươi lăm đồng) đối với yêu cầu trả nợ khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số 1605-LAV-202000014 ngày 23/3/2020 đã được Tòa án chấp nhận;
  1. Ngân hàng N không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, hoàn lại cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 73.796.722đ (bảy mươi ba triệu bảy trăm chín mươi sáu nghìn bảy trăm hai mươi hai đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0009723 ngày 27/3/2024 Chi cục thi hành án dân sự Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
  1. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
  2. Ngân hàng N được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

    Công ty TNHH L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

    Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 6;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 6;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Thị Công Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/KDTM-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 34/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N: Buộc Công ty TNHH L phải thanh toán cho Ngân hàng N số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số 1605-LAV-202000014 ngày 23/3/2020, tính đến ngày 22/8/2024 là 44.834.525.478đ (bốn mươi bốn tỷ tám trăm ba mươi bốn triệu năm trăm hai mươi lăm nghìn bốn trăm bảy mươi tám đồng), trong đó nợ gốc là 30.000.000.000đ (ba mươi tỷ đồng), nợ lãi trong hạn là 6.210.715.068đ (sáu tỷ hai trăm mười triệu bảy trăm mười lăm nghìn không trăm sáu mươi tám đồng), nợ lãi quá hạn là 7.680.982.192đ (bảy tỷ sáu trăm tám mươi triệu chín trăm tám mươi hai nghìn một trăm chín mươi hai đồng), nợ lãi chậm trả là 942.828.218đ (chín trăm bốn mươi hai triệu tám trăm hai mươi tám nghìn hai trăm mười tám đồng). Thời hạn thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày 23/8/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ, Công ty TNHH L còn phải trả cho Ngân hàng N các khoản lãi, lãi phạt, phí liên quan phát sinh cho đến khi trả hết nợ vay. Trường hợp tại Hợp đồng tín dụng số 1605-LAV-202000014 ngày 23/3/2020 có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất sẽ được tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án. Trường hợp Công ty TNHH L không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả số tiền nêu trên thì Ngân hàng N được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 1101, tờ bản đồ số 1, diện tích 1216,6m2 tại địa chỉ thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CC 968166 số vào sổ cấp GCN CH 00338 do UBND huyện H cấp ngày 27/11/2015) để Ngân hàng thu hồi nợ, trường hợp phát mãi tài sản thế chấp không đủ để trả nợ thì bị đơn có nghĩa vụ trả tiếp tục trả nợ cho đến khi trả hết nợ vay cho Ngân hàng N. 2. Trường hợp Công ty TNHH L trả hết nợ cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng số 1605-LAV-202000014 ngày 23/3/2020 thì Ngân hàng N phải trả lại cho ông Bùi Liên M1 bản chính giấy tờ của tài sản thế chấp là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CC 968166 số vào sổ cấp GCN CH 00338 do UBND huyện H cấp ngày 27/11/2015. 3. Công ty TNHH L có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng N tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp là 10.000.000đ (mười triệu đồng) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger