Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/DS-ST

Ngày 17 tháng 5 năm 2024

V/v "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Truyền Bình

Ông Ngô Bá Dũng

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lành- Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ly Na - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng, Tòa án xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 307/2023/TLST-DS ngày 07 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 307/2024/QĐXXST-DS ngày 02/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 307/2024/QĐST-DS ngày 24/4/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1969, Địa chỉ: 2 đường Đ, phường C, quận H, thành phố Đà Nẵng;

    Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 2000; Địa chỉ: A B, khối T, phường C, thành phố H. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

  2. Bị đơn: Ông Lê Vũ Đ, sinh năm 1980; Cùng địa chỉ: D T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt không có lý do.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần Đ1; Địa chỉ: 2 đường Đ, phường C, quận H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lê Văn T trình bày:

Ngày 23/3/2021 tại địa chỉ 2 đường Đ, phường C, quận T, Thành phố Đà Nẵng bà M có cho 3 cổ đông của Công ty cổ phần Đ1 mượn tiền là ông Lê Vũ Đ, Huỳnh Ngọc T1 và ông Trần Q. Việc bà M cho 3 cổ động của Công ty cổ phần Đ1 mượn tiền dưới danh nghĩa cá nhân của 3 cổ đông là ông Lê Vũ Đ, Huỳnh Ngọc T1 và ông Trần Q và việc bà M cho mượn tiền này không phải là cho Công ty cổ phần Đ1 mượn mà cho các cá nhân có tên ở trên mượn. Thời hạn phải thanh toán cả gốc lẫn lãi cho bà M do các bên tự thỏa thuận. Cụ thể ông Lê Vũ Đ mượn 250.000.000 đồng, ông Huỳnh Ngọc T1 mượn 50.000.000 đồng, ông Trần Quang M1 50.000.000 đồng và đến ngày 29/3/2021 thì ông Huỳnh Ngọc T1 và ông Trần Q đã trả xong số nợ của mình. Riêng ông Lê Vũ Đ không trả cho bà M số tiền là 250.000.000 đồng. Sau nhiều lần liên hệ yêu cầu ông Lê Vũ Đ thanh toán tiền gốc và tiền lãi, nhưng ông Đ vẫn cố tình trốn tránh, không hợp tác và không chịu trả lại số tiền trên cho bà M. Nay bà M khởi kiện yêu cầu ông Lê Vũ Đ phải thanh toán tiền nợ cho bà tính đến ngày 24/4/2024 với tổng số tiền là 327.260.274₫ (Ba trăm hai mươi bảy triệu hai trăm sáu mươi ngàn hai trăm bảy bốn đồng); trong đó nợ gốc: 250.000.000đ và nợ lãi tính từ ngày 23/3/2021 đến ngày 24/4/2024 với mức lãi suất 10%/ năm là 77.260.274₫.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông Lê Vũ Đ để lấy lời khai và tham gia hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng pháp luật.

Kiểm sát viên đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Lê Vũ Đ phải trả cho bà Nguyễn Thị M số tiền còn nợ 327.260.274đ (Ba trăm hai mươi bảy triệu hai trăm sáu mươi ngàn hai trăm bảy bốn đồng); trong đó nợ gốc: 250.000.000₫ và nợ lãi tính từ ngày 23/3/2021 đến ngày 24/4/2024 là 77.260.274₫.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lê Văn T có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn là ông Lê Vũ Đ đã được Tòa án thực hiện các thủ tục triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng đến lần thứ hai vẫn không có mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 để xét xử vắng mặt đương sự nói trên.

[2] Về nội dung vụ án: Bà Nguyễn Thị M cho 3 cổ đông của Công ty cổ phần Đ1 mượn số tiền 350.000.000đ; Cụ thể ông Lê Vũ Đ mượn 250.000.000 đồng, ông Huỳnh Ngọc T1 mượn 50.000.000 đồng, ông Trần Quang M1 50.000.000 đồng và đến ngày 29/3/2021 thì ông Huỳnh Ngọc T1 và ông Trần Q đã trả xong số nợ của mình. Riêng ông Lê Vũ Đ không trả cho bà M số tiền là 250.000.000 đồng. Việc bà M cho 3 cổ động của Công ty cổ phần Đ1 mượn tiền dưới danh nghĩa cá nhân của 3 cổ đông là ông Lê Vũ Đ, Huỳnh Ngọc T1 và ông Trần Q và việc bà M cho mượn tiền này không phải là cho Công ty cổ phần Đ1 mượn mà cho các cá nhân có tên ở trên mượn. Thời hạn phải thanh toán cả gốc lẫn lãi cho bà M do các bên tự thỏa thuận tại Giấy mượn tiền ngày 23/3/2021. Quá trình mượn tiền ông Đ chưa trả cho bà M nên tại bà M yêu cầu ông Đ phải trả cho bà số tiền 327.260.274₫ (Ba trăm hai mươi bảy triệu hai trăm sáu mươi ngàn hai trăm bảy bốn đồng); trong đó nợ gốc: 250.000.000đ và nợ lãi tính từ ngày 23/3/2021 đến ngày 24/4/2024 là 77.260.274đ.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:

Bà Nguyễn Thị M cung cấp cho Tòa án 01 Giấy mượn tiền ngày 23/3/2021 xác định bên vay tiền là Công ty cổ phần Đ2, tuy nhiên trong nội dung giấy mượn tiền thể hiện nội dung từng cá nhân của Công ty mượn tiền và có trách nhiệm trả nợ cho bà M. Mặc khác ông Lê Vũ Đ đã kí vào Giấy mượn tiền thể hiện ông Lê Vũ Đ mượn số tiền 250.000.000 đồng của bà M. Kể từ thời điểm mượn tiền, bà M đã nhiều lần yêu cầu ông Đ trả nợ nhưng ông Đ vẫn không trả. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho ông Đ các văn bản tố tụng nhưng ông Đ vẫn không có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không tham gia hòa giải tại Tòa án. HĐXX nhận định giữa bà Nguyên Thị M và ông Lê Vũ Đ có xác lập giao dịch mượn tiền, không xác định rõ thời hạn trả, có thỏa thuận lãi theo quy định pháp luật và ông Đ vi phạm nghĩa vụ trả tiền đối với bà M theo quy định tại Điều 463, 466, 469 Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà M cần được chấp nhận.

Đối với số tiền lãi bà M yêu cầu là 77.260.274 đồng được tính từ ngày 23/3/2021 đến ngày 24/4/2024 với mức lãi suất 10%/năm; tại Giấy mượn tiền có thỏa thuận về mức lãi suất dựa trên quy định pháp luật; ông Đ mượn tiền nhưng không trả đã vi phạm thời hạn trả nợ nên phải chịu mức lãi suất do các bên thỏa thuận; mức lãi suất 10% là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.

Như vậy có đủ căn cứ để buộc ông Lê Vũ Đ phải trả cho bà Nguyễn Thị M số tiền 327.260.274₫ (Ba trăm hai mươi bảy triệu hai trăm sáu mươi ngàn hai trăm bảy bốn đồng); trong đó nợ gốc: 250.000.000đ và nợ lãi tính từ ngày 23/3/2021 đến ngày 24/4/2024 là 77.260.274đ.

[4] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn – ông Lê Vũ Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm: 327.260.274 đồng x 5% ~ 16.363.014 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 63, 147, 179, 227, 228, 235, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ các Điều 463, 466, 468, 469 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị M đối với ông Lê Vũ Đ.
  2. Buộc ông Lê Vũ Đ phải trả cho bà Nguyễn Thị M số tiền 327.260.274₫ (Ba trăm hai mươi bảy triệu hai trăm sáu mươi ngàn hai trăm bảy bốn đồng); trong đó nợ gốc: 250.000.000đ và nợ lãi tính từ ngày 23/3/2021 đến ngày 24/4/2024 là 77.260.274₫.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

  3. Án phí và chi phí tố tụng khác:
    • Án phí Dân sự sơ thẩm: 16.363.014₫ (Mười sáu triệu ba trăm sáu mươi ba ngàn không trăm mười bốn đồng), ông Lê Vũ Đ phải chịu.
    • Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị M số tiền tạm ứng án phí 7.708.325đ (Bảy triệu bảy trăm lẻ tám ngàn ba trăm hai lăm đồng) theo biên lai thu số 0002516 ngày 31/10/2023 của Chi Cục thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
  4. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND quận Hải Châu;
  • - Chi cục THADS quận Hải Châu;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/DS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 34/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP. ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đòi tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger