Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THANH XUÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/DS - ST

Ngày: 26 - 4 - 2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hồng Vân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Chu Thị Tuyết.
  2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan.

Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Thanh Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hồng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 100/2023/TLST - DS ngày 01 tháng 11 năm 2023 về việc: "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST - DS ngày 22/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2024/QĐST - DS ngày 09/4/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S; địa chỉ: số B - B N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, chức danh: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đào Thị Đoan T; chức danh: Giám đốc Ngân hàng TMCP S chi nhánh N.

Người được bà T ủy quyền: Ông Phạm Ngọc V - chuyên viên quản lý nợ, phòng kiểm soát rủi ro Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S (theo giấy ủy quyền số 45/2021/GUQ – CNNT ngày 23/3/2021). Vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Trần Anh T1, sinh năm 1968; địa chỉ: số A, ngõ G N, phường T, quận T, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án đại diện ủy quyền Ngân hàng Thương mại Cổ phần S trình bày:

Ngày 04/12/2012 Ông Trần Anh T1 có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần S Hợp đồng sử dụng 02 Thẻ tín dụng Ngân hàng Thương mại Cổ phần S gồm nội địa Family và thẻ quốc tế Visa (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với chung hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) lãi suất áp dụng 2.5%/tháng (Thẻ Family) và 2.15%/Tháng (Thẻ Visa) với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Trần Anh T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 165.225.479 đồng.

Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 22 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ông Trần Anh T1 phải chịu các khoản phí theo quy định trong Điều 24 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, chi tiết lãi, phí trong sao kê tóm tắt.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Trần Anh T1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 133.676.000 đồng. Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo Điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:

  • + Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước
  • + Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước
  • + Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước
  • + Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ
  • + Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ
  • + Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Trần Anh T1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Trần Anh T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 10/04/2014 và ngày 22/04/2014 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng 02 thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 54.692.563 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).

+ Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc của thẻ Visa là 4.259.754 đồng với lãi suất quá hạn là 3.225%/ tháng (2.15%* 150%) từ ngày ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại là 3.669 ngày. Lãi suất quá hạn được tính như sau:

Lãi suất 1 ngày là: 4.259.754 đồng x (2.15% x 150%): 30 ngày = 4.579 đồng.

Lãi quá hạn là: 4.579 x 3.669 ngày = 16,800,351 đồng (1)

+ Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc của thẻ F là 50.432.809 đồng với lãi suất quá hạn là 3.75%/ tháng (2.5%* 150%) từ ngày ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại là 3.657 ngày. Lãi suất quá hạn được tính như sau:

Lãi suất 1 ngày là: 50.432.809 đồng x (2.5% x 150%) : 30 ngày = 63.041 đồng

Lãi quá hạn là: 63.041 x 3.657 ngày = 230,540,937 đồng (2)

Tổng cộng lãi quá hạn của 02 thẻ là: Thẻ Visa (1) 16,800,351 đồng + Thẻ Family (2) 230,540,937 = 247,341,288 đồng.

Tạm tính đến ngày 26/04/2024, ông Trần Anh T1 còn nợ các khoản sau: Số tiền nợ gốc là: 54.692.563 đồng, số tiền nợ lãi quá hạn là: 247.341.288 đồng Tổng cộng: 302.033.851 đồng (ba trăm lẻ hai triệu, không trăm ba mươi ba nghìn, tám trăm năm mươi mốt đồng).

Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc với ông Trần Anh T1, yêu cầu ông có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên ông Trần Anh T1 vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.

Vì vậy Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đề nghị Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân giải quyết:

  1. Buộc ông Trần Anh T1 phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 26/04/2024 là 302.033.851 đồng (ba trăm lẻ hai triệu, không trăm ba mươi ba nghìn, tám trăm năm mươi mốt đồng) trong đó: số tiền nợ gốc là: 54.692.563 đồng, số tiền nợ lãi quá hạn là: 247.341.288 đồng.
  2. Ông Trần Anh T1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 27/04/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Trong suốt quá trình tố tụng, Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần đối với bị đơn ông Trần Anh T1, nhưng ông Trần Anh T1 đều vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.

Tại phiên tòa hôm nay,

- Người đại diện theo ủy quyền lại của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S là ông Phạm Ngọc V có đơn xin xét xử vắng mặt và có bản tự khai xác định lại yêu câu khởi kiện như sau:

  1. Buộc ông Trần Anh T1 phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 26/04/2024 là 302.033.851 đồng (ba trăm lẻ hai triệu, không trăm ba mươi ba nghìn, tám trăm năm mươi mốt đồng) trong đó: số tiền nợ gốc là: 54.692.563 đồng, số tiền nợ lãi quá hạn là: 247.341.288 đồng.
  2. Ông Trần Anh T1 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 27/04/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

- Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân phát biểu:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa quá trình giải quyết vụ án cơ bản đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn quá trình tham gia tố tụng đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các quy định của pháp luật, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn về yêu cầu trả nợ gốc, lãi theo các Hợp đồng thẻ tín dụng đã ký kết và bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện ông Trần Anh T1, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo 02 Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng nên xác định tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: vụ án được Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận thụ lý và giải quyết ban đầu do bị đơn ông Trần Anh T1 có địa chỉ tại Chung cư C, đường H, quận T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Ngày 27/9/2021, Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xác minh từ ngày 15/4/2021 ông Trần Anh T1 đã không còn tại địa chỉ nêu trên. Ngày 19/7/2022 Công an phường T, quận T, thành phố Hà Nội cung cấp thông tin ông Trần Anh T1 hiện đang đăng ký hộ khẩu thường trú tại số A, ngõ G N, phường T, quận T, thành phố Hà Nội nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.

[2] Về tố tụng: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về yêu cầu khởi kiện:

[3.1] Về nợ gốc: Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S thì giữa chủ thẻ là ông Trần Anh T1 và bên phát hành thẻ là Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có thỏa thuận việc cấp và sử dụng thẻ tín dụng nội địa Family và thẻ quốc tế Visa, với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất áp dụng là 2,5%/tháng (thẻ F) và 2,15%/tháng (thẻ Visa). Việc thỏa thuận của các đương sự phù hợp với quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2005 và quy định tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng nên có giá trị pháp lý, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Trần Anh T1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 165.255.479 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, ông Trần Anh T1 đã thanh toán cho Ngân hàng S1 số tiền 133.676.000 đồng. Thứ tự thanh toán áp dụng theo Điều 20 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Do ông Trần Anh T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 10/4/2014 và ngày 22/4/2014 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng 02 thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Nay Ngân hàng Thương mại Cổ phần S yêu cầu ông Trần Anh T1 phải thanh toán khoản nợ gốc là: 54.692.563 đồng là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005 và cần được chấp nhận.

[3.2] Về nợ lãi quá hạn: Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng tín dụng của Ngân hàng Thương mại cổ phần S quy định áp dụng mức lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố áp dụng tại thời điểm ký hợp đồng. Đối chiếu cách tính trình bày trong bản tự khai và bản sao kê tính lãi mà Ngân hàng cung cấp thấy mức lãi suất Ngân hàng tính và yêu cầu ông Trần Anh T1 phải trả là phù hợp với các thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng ký kết giữa hai bên, phù hợp với các quy định của mà Bộ luật Dân sự về lãi suất nên có cơ sở để chấp nhận.

[3.3] Về yêu cầu trả lãi suất phát sinh kể từ sau ngày xét xử: nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lãi suất phát sinh trong quá trình trả nợ được tính tiếp theo từ ngày 27/4/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Xét yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với thỏa thuận theo Hợp đồng đã ký kết, phù hợp với Điều 91 của Luật tổ chức tín dụng nên có cơ sở để chấp nhận.

[4] Về án phí: yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên trả lại nguyên đơn toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp, đồng thời buộc bị đơn là ông Trần Anh T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm a và điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Điều 290; Điều 471; khoản 1 Điều 474 Bộ luật Dân sự 2005;
  • - Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
  • - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/ 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
  2. Buộc ông Trần Anh T1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm tính đến ngày 26/4/2024 là: 302.033.851 đồng (ba trăm lẻ hai triệu, không trăm ba mươi ba nghìn, tám trăm năm mươi mốt đồng) trong đó: số tiền nợ gốc là: 54.692.563 đồng, số tiền nợ lãi quá hạn là: 247.341.288 đồng.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 27/4/2024), ông Trần Anh T1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

  3. Về án phí: Ông Trần Anh T1 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là: 15.101.693 đồng (mười lăm triệu, một trăm linh một nghìn, sáu trăm chín mươi ba đồng).
  4. Trả lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 5.639.000đ (năm triệu, sáu trăm ba mươi chín nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0025614 ngày 12/4/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.

  5. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Thanh Xuân;
  • - Chi cục THADS TP. Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận;
  • - Chi cục THADS quận Thanh Xuân, TP. Hà Nội;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Thị Hồng Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/DS - ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 34/2024/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng S và ông T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger