Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2023/HNGĐ-PT

Ngày: 20/12/2023

“v/v tranh chấp về chia tài sản sau

khi ly hôn"

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chất

Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Mai Hoa và bà Nguyễn Thị Thu Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 41/2023/TLPT-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2023 về việc “tranh chấp về chia tài sản sau khi ly hôn”.

Do Bản án sơ thẩm số 36/2023/HNGĐ-ST ngày 10 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 36/2023/QĐ-PT ngày 29 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1958; Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Có mặt.
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Quang K, sinh năm 1956; Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Có mặt.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • - Ông Nguyễn Đức K1, sinh năm 1945;
    • Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện G, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
    • - Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.
    • Địa chỉ: xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.
    • Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Việt T1 - Chủ tịch UBND xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  4. Người làm chứng:
    • - Ông Đặng Tuấn K2, sinh năm 1948; địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
    • - Ông Nguyễn Công T2, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
  5. Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Quang K. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày: Bà và ông Nguyễn Quang K kết hôn vào năm 1982. Do chung sống không hợp nhau nên ông bà đã làm thủ tục ly hôn và được TAND huyện Tứ Kỳ công nhận thuận tình ly hôn tại Quyết định số 128/2022/QÐST-HNGĐ ngày 07/9/2022. Tại thời điểm ly hôn, bà và ông K không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung. Từ khi ly hôn đến nay, ông K quản lý nhà đất, không cho bà sử dụng nên bà đề nghị Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định của pháp luật.

Trong thời kỳ hôn nhân, bà và ông K có khối tài sản chung gồm: Thửa đất số 48, tờ bản đồ số 09, diện tích 348m², địa chỉ thôn N, xã T, huyện T, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt GCNQSDĐ); tài sản, công trình gắn liền với đất gồm: 01 nhà mái bằng do vợ chồng xây dựng năm 1988, nhà ăn, bếp, nhà vệ sinh do vợ chồng xây dựng năm 2009 và một số tài sản, cây cối gắn liền đất. Thửa đất số 48 có nguồn gốc là của cụ Nguyễn Công S (là bác rể của ông K), được HTX cấp từ khi nào bà không biết. Khi về làm dâu vào năm 1982, bà và ông K ở cùng cụ Đặng Thị G (là mẹ chồng bà) và cụ Nguyễn Công S. Cụ S có vợ đầu là Đặng Thị V (chị gái cụ G), do cụ V đã chết, không có con nên cụ S lấy cụ G và coi ông K như con. Năm 1988, cụ S chết. Vợ chồng bà cùng cụ G vẫn ở trên thửa đất. Năm 2016, cụ G chết, không để lại di chúc. Bà không biết ông K đã làm thủ tục cấp GCNQSDĐ khi nào. Đến nay, bà xác định thửa đất số 48, tờ bản đồ số 9, diện tích 348m² đã được cấp GCNQSDĐ mang tên ông K tại thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương, một nhà mái bằng, một nhà ăn, một nhà tắm, một bể nước đã được định giá và các tài sản khác gắn liền với đất (không định giá) đều là tài sản chung của vợ chồng. Bà xin nhận phần đất có nhà ăn để sử dụng. Đối với phần đất dôi dư nằm ngoài giấy chứng nhận, sau này ai được giao đất hợp pháp gắn liền với phần đất đó thì khi địa phương xử lý đất dôi dư sẽ nghiêm chỉnh chấp hành. Đối với tiền chi phí xem xét, thẩm định, định giá đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Quang K trình bày:

Ông xác định về thời gian kết hôn và quá trình ly hôn như bà T trình bày là đúng. Thửa đất số 48, tờ bản đồ số 9 hiện ông đang quản lý, sử dụng ở thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương có nguồn gốc là của bố mẹ ông cụ Nguyễn Công S và cụ Đặng Thị G, do Nhà nước cấp từ năm 1966. Khi thực hiện Chỉ thị 299/CP, thửa đất đứng tên cụ Nguyễn Công S. Năm 1982, ông lấy bà T và về ở cùng thửa đất với bố mẹ ông. Năm 1988, cụ S chết không để lại di chúc, còn cụ G vẫn ở với vợ chồng ông. Sau đó mẹ con ông thống nhất tặng riêng cho ông thửa đất trên, không có văn bản giấy tờ. Ngày 11/6/2001, UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 48, tờ bản đồ số 9, diện tích 348m² mang tên ông Nguyễn Công K3 (ghi sai tên đệm của ông). Tài sản gắn liền đất có 01 nhà mái bằng 03 gian, xây dựng năm 1986 do bố mẹ làm cho vợ chồng, do xuống cấp nên năm 2019 ông đã sửa lại, cụ thể trát tường bên ngoài và vá một số chỗ bên trong, ốp trần nhựa. Công trình phụ gồm nhà ăn, nhà bếp, nhà vệ sinh xây dựng năm 2007 do các con cho tiền và vợ chồng tập trung làm. Ông không đồng ý với quan điểm của bà T cho rằng nhà đất và tài sản gắn liền với đất là của vợ chồng. Theo ông, vợ chồng chỉ có tài sản chung là nhà mái bằng cũ còn lại, công trình phụ, còn toàn bộ thửa đất là của riêng ông. Ông không đồng ý chia đất cho bà T mà chỉ nhất trí chia tài sản chung là nhà ở mái bằng cũ còn lại, công trình phụ hiện nay còn bao nhiêu thì bà T sử dụng bấy nhiêu. Bà T tự yêu cầu phải chịu tiền chi phí thẩm định, định giá tài sản.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đức K1 trình bày: Ông và ông K3 là anh em cùng mẹ khác cha. Bố mẹ đẻ ông là cụ Nguyễn Đức L và cụ Đặng Thị G chỉ sinh được một mình ông. Năm 1952, cụ L chết. Cụ Nguyễn Công S là chồng của cụ V1 (chị gái cụ G), cụ S và cụ V1 không có con. Sau khi cụ V1 chết, năm 1956, cụ G lấy cụ S. Cụ G sinh thêm được ông K3. Ông K3 không phải là con đẻ của cụ S nhưng cụ S coi ông K3 như con. Nguồn gốc thửa đất là của bố mẹ cụ G cho cụ S và cụ G. Khi còn sống, hai cụ chỉ xây được 1 nhà tre 4 gian. Năm 1986, cụ S chết. Năm 2016, cụ G chết, trước khi chết hai cụ đều không để lại di chúc gì liên quan đến thửa đất. Do ông đã có nhà riêng nên hai anh em ông thống nhất thửa đất trên do ông K3 quản lý, sử dụng. Mặt khác trước khi chết, cụ S cũng nói là cho ông K3, chỉ nói miệng không có văn bản giấy tờ gì. Sau này việc kê khai, làm thủ tục cấp GCNQSDĐ như thế nào ông không biết, ông cũng không ký giấy tờ gì. Ông K3 và bà T kết hôn năm 1982, sau kết hôn đã về sống cùng cụ S và cụ G. Quá trình chung sống, ông K3, bà T phá nhà tranh của các cụ và xây nhà công trình trên đất như hiện nay. Nay bà T khởi kiện chia tài sản là nhà đất trên, ông không có ý kiến, không yêu cầu đề nghị gì với các tài sản đang tranh chấp.

Người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND xã T trình bày: Trước đây cụ G lấy cụ Nguyễn Đức L người xã H, huyện G. Hai cụ có 01 người con chung là ông Nguyễn Đức K1. Sau một thời gian sinh sống ở H (nghe tin đồn) cụ G tự kiếm con nên không ở gia đình nhà chồng mà về ở đất của bố mẹ đẻ tại N, T và sinh được 1 người con là ông K3. Còn cụ Nguyễn Công S trước đây có vợ là cụ Đặng Thị V (là chị gái cụ G). Sau khi cụ V chết thì cụ S lấy cụ G và sinh sống trên mảnh đất ông K3 đang ở. Cụ S không phải là bố đẻ của ông K3 nhưng coi ông K3 như con đẻ và sau này các giấy tờ tùy thân của ông K3 đều ghi bố mẹ là cụ Nguyễn Công S và mẹ là Đặng Thị G. Nguồn gốc thửa đất trên là của bố mẹ cụ G và có từ trước năm 1956-1958 (tức có trước khi cụ S chưa lấy cụ G). Theo hồ sơ địa chính lập theo Chỉ thị 299 là thửa số 118, tờ bản đồ số 10, diện tích 303m² ghi tên chủ sử dụng là cụ S. Năm 1982, ông K3, bà T kết hôn và về ở cùng bố mẹ tại nhà đất trên. Năm 1988 ông K3, bà T làm nhà mái bằng 3 gian, đang làm nhà thì cụ S chết (không rõ chết ngày tháng nào) theo ông K3, cụ S chết ngày 04/6/1988 âm lịch. Theo hồ sơ địa chính năm 1999 là thửa số 48, tờ bản đồ số 9, diện tích 348m². Năm 1999-2001 địa phương tổ chức đo đạc lập hồ sơ cấp GCNQSDĐ, ông K3 có đơn và đã được Hội đồng xét duyệt UBND xã T xét, đề nghị UBND huyện cấp GCNQSDĐ mang tên Nguyễn Công K3 (sai tên đệm). Thời điểm trên đa số giấy chứng nhận chỉ đứng tên 01 người chứ không thể hiện đầy đủ tên cả hai vợ chồng. Sau khi có kết quả lồng ghép, xác định diện tích đất hợp pháp là 348m². Phần diện tích đất còn lại 25,1m² nằm ngoài giấy chứng nhận về phía T, đây là phần đất ao do UBND xã quản lý. Đến nay, địa phương chưa sử dụng đến phần diện tích đất trên nên người sử dụng đất hợp pháp giáp ranh với đất dôi dư của xã vẫn được tạm thời sử dụng, khai thác rau màu, cây trồng trên đất. Khi địa phương xử lý thì người đó phải nghiêm chỉnh chấp hành. Đối với thửa đất vợ chồng ông K3, bà T đang tranh chấp, địa phương xác định trong hồ sơ không có hợp đồng tặng cho, phân chia thừa kế từ gia đình cụ S, cụ G sang cho ông K3, không có tài liệu thể hiện bố mẹ ông K3 chỉ cho đất ông K3 mà không cho bà T. Năm 1993, khi giao đất nông nghiệp (đất 03), hộ gia đình ông K3, bà T cũng như cụ S, cụ G không bị trừ đất 03 ngoài đồng vào vườn thừa.

Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 12-6-2023 và Biên bản định giá tài sản ngày 21-7-2023 thể hiện: Thửa số 48, tờ bản đồ số 9, địa chỉ ở thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương có diện tích theo hiện trạng 373,1m², trong đó có 348m² đất đã được cấp GCNQSDĐ, 25,1m² đất dôi dư. Giá trị quyền sử dụng đất 348m² là 363.840.000 đồng. Tài sản gắn liền với đất gồm 01 nhà mái bằng 01 tầng, diện tích 47,6m², trị giá 54.692.000 đồng; 01 nhà ăn, diện tích 19,4m², trị giá 63.414.000 đồng; 01 nhà tắm, diện tích 4,5m², trị giá 14.709.000 đồng; 01 bể nước, diện tích 2,5m², trị giá 4.024.000 đồng. Tổng trị giá nhà đất và các tài sản đã định giá 500.679.000 đồng. Ngoài ra, trên đất còn có các tài sản khác gồm: 01 giếng khơi, 01 sân giếng, 01 nhà kho, 01 gian bếp, 01 nhà vệ sinh, 01 sân cạnh bếp, 01 sân lát gạch đỏ, sân trạt bê tông, tường bao, 02 cánh cổng sắt, cây cối (bà T, ông K3 không yêu cầu định giá).

Tại Bản án sơ thẩm số 36/2023/HNGĐ-ST ngày 10 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương đã quyết định: Căn cứ vào các Điều 59, 33, 61, 62 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 2, 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tài sản: Xác nhận khối tài sản chung của bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Quang K (tức Nguyễn Công K3) để phân chia gồm:

- Thửa đất số 48, tờ bản đồ số 9, diện tích 348m² tại thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương, đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 11/6/2001 đứng tên ông Nguyễn Công K3 (tức Nguyễn Quang K), trong đó có 300m² đất ở, 48m² đất trồng cây lâu năm và các tài sản trên đất gồm: Một nhà mái bằng diện tích 47,6m², trị giá 54.692.000 đồng; Một nhà ăn, diện tích 19,4m², trị giá 63.414.000 đồng; Một nhà tắm bên cạnh nhà ăn, diện tích 4,5m², trị giá 14.709.000 đồng; Một bể nước bên cạnh nhà tắm, diện tích 2,5m², trị giá 4.024.000 đồng, tổng trị giá nhà đất và các tài sản đã định giá 500.679.000 đồng. Ngoài ra, trên đất còn có các tài sản khác gồm: 01 giếng khơi, 01 sân giếng, 01 nhà kho, 01 gian bếp, 01 nhà vệ sinh, 01 sân cạnh bếp, 01 sân lát gạch đỏ, sân trạt bê tông, tường bao, 02 cánh cổng sắt (bà T, ông K không yêu cầu định giá).

- Xử: Trích một phần diện tích đất làm lối đi chung 18m² với kích thước chiều rộng hai cạnh 2,53m và 2,16m+1,0m, chiều dài hai cạnh là 2,32m+4,65m và 7,83m. Buộc ông Nguyễn Quang K (tức Nguyễn Công K3) phải tháo dỡ hai cánh cổng, đánh chuyển cây cối ra chỗ khác để mở lối đi (ông K3 được sử dụng hai cánh cổng và cây trên phần đất mở lối đi khi đánh chuyển). Lối đi chung được giới hạn bởi các điểm A12,A13,C1,C2,A10,A11 đến A12.

2. Chia giá trị: Giá trị tài sản còn lại của ông Nguyễn Quang K và bà Nguyễn Thị T: Giá trị đất (sau khi trích đất làm lối đi) là: 362.400.000 đồng: Chia cho bà T 45% giá trị thửa đất bằng 163.080.000 đồng; ông Nguyễn Quang K 55% giá trị thửa đất bằng 199.320.000 đồng; giá trị các tài sản gồm nhà mái bằng, nhà ăn, nhà tắm, bể nước 136.839.000 đồng, ông K, bà T mỗi người được chia là 68.419.500 đồng. Tổng tài sản bà Nguyễn Thị T được chia: 231.499.500 đồng; ông Nguyễn Quang K được chia: 267.739.500 đồng.

3. Chia hiện vật:

3.1. Chia cho ông Nguyễn Quang K (tức Nguyễn Công K3) quyền sử dụng diện tích 230m² đất nằm trong thửa số 48, tờ bản đồ số 9, trong đó có 200m² đất ở và 30m² đất trồng cây lâu năm, kích thước các cạnh như sau: Phía Nam (giáp bà H) 9,50m; phía Bắc (giáp nhà ông K2 và giáp đất ao của UBND xã) gồm các cạnh 7,53m+5,45m+6,76m; phía Đông (giáp đất giao cho bà T và ngõ đi vào) 16,62+2,53m, phía Tây (giáp đất gia đình ông M) 8,69m+4,20m+6,31m và các tài sản gắn liền với đất đã định giá gồm 01 nhà mái bằng 47,6m², 01 nhà ăn 19,4m², 01 nhà tắm 4,5m², 01 bể nước 2,5m². Hình thể thửa đất được giới hạn bởi các điểm C1,A1,A2,A3,B1,B2,A7,C3,C2 đến C1. Tổng trị giá 379.239.000đồng.

3.2. Chia cho bà Nguyễn Thị T quyền sử dụng diện tích 100m2 đất ở nằm trong thửa số 48, tờ bản đồ số 9, kích thước các cạnh như sau: phía Nam (giáp ngõ đi chung) 7,83m; phía Đông (giáp ao của UBND xã T) 11,77m; phía Bắc (giáp đất ông K2) có các cạnh 3,93m+3,79m; phía Tây (giáp đất chia cho ông K3) 16,62m. Hình thể thửa đất được giới hạn bởi các điểm A10,C2,C3,A8,A9,A10 đến C2. Tổng giá trị 120.000.000đồng.

Ông Nguyễn Quang K (ông Nguyễn Công K3) phải thanh toán trả giá trị chênh lệch tài sản cho bà Nguyễn Thị T 111.499.500 đồng.

3.3. Ông K3 tạm thời quản lý, sử dụng, khai thác các tài sản nằm trên phần đất ao 25,1m². Khi UBND xã T xử lý đất dôi dư do lấn chiếm thì ông K3 phải nghiêm chỉnh chấp hành.

Đối với các tài sản khác gồm 01 giếng khơi, 01 sân giếng, 01 nhà kho, 01 gian bếp, 01 nhà vệ sinh, 01 sân cạnh bếp, 01 sân lát gạch đỏ, sân trạt bê tông, tường bao, cây trồng trên đất (các tài sản đương sự không yêu cầu định giá) nằm trên phần đất của ai được giao, người đó được quyền sử dụng. Ông K3 phải di chuyển các cây cảnh trồng trong chậu đi nơi khác để trả đất cho bà T sử dụng.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 13/9/2023, bị đơn ông Nguyễn Quang K có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật.

Căn cứ kháng cáo: Tòa án cấp sơ thẩm xác định thửa đất số 48, tở bản đồ số 9, diện tích 348 m² và ngôi nhà mái bằng 01 tầng là tài sản chung của vợ chồng là không đúng; đất và nhà là của ông, được bố mẹ tặng cho riêng, thửa đất đã được cấp GCNQSDĐ mang tên một mình ông. Bà T không có công sức gì trong việc tôn tạo thửa đất, nguồn tiền để xây nhà là của bố mẹ ông nên ông không đồng ý chia đất và nhà cho bà T. Đối với các công trình khác gắn liền với đất như nhà ăn, nhà tắm, nhà bếp, nhà vệ sinh... là tài sản chung của vợ chồng. Nguồn tiền để xây dựng các công trình này là tiền của vợ chồng và các con đóng góp. Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét công sức của các con mà chia 1/2 giá trị công trình cho bà T, ông không đồng ý.

Tại phiên tòa:

- Ông Nguyễn Quang K trình bày: Thửa đất số 48, diện tích 348m² được bố mẹ tặng cho riêng ông, tuy không có giấy tờ về việc tặng cho nhưng có anh ruột là ông Nguyễn Đức K1 và hàng xóm chứng kiến, mặt khác thửa đất đã được cấp GCNQSDĐ mang tên một mình ông nên xác định đất là tài sản của riêng ông. Đối với các tài sản gắn liền với đất như nhà mái bằng và các công trình phụ, ông nhất trí xác định là tài sản chung của vợ chồng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của ông.

- Bà Nguyễn Thị T trình bày: Bà không nhất trí nội dung kháng cáo của ông K. Mặc dù nguồn gốc đất là của bố mẹ ông K nhưng bà và ông K đã ở trên đất từ năm 1982, bà có nhiều công sức tôn tạo thửa đất, phụng dưỡng bố mẹ chồng nên bà xác định thửa đất là tài sản chung của vợ chồng. Đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông K, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu ý kiến: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và các đương sự chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Quang K, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 36/2023/HNGĐ-ST ngày 10 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ. Ông K được miễn án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, ý kiến trình bày và tranh luận tại phiên tòa của đương sự, quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của ông Nguyễn Quang K trong thời hạn luật định là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[1.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Đức K1 và đại diện UBND xã T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất nhưng vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, do vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định xét xử vắng mặt những người liên quan theo quy định tại khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Quang K thì thấy:

[2.1] Đối với tài sản là thửa đất số 48, tờ bản đồ số 9, diện tích 348m² tại thôn N, xã T, huyện T:

Ông K kháng cáo không đồng ý phân chia thửa đất số 48, tờ bản đồ số 9 vì cho rằng thửa đất trên là của bố mẹ đã tặng cho riêng ông. Tuy nhiên căn cứ lời khai của các đương sự và kết quả xác minh cho thấy, thửa đất số 48, tờ bản đồ số 9, diện tích 348 m² có nguồn gốc là của cụ Nguyễn Công S và cụ Đặng Thị G (là bố mẹ của ông K). Ông K kết hôn với bà T và về ở cùng cụ S, cụ G tại thửa đất trên từ năm 1982 cho đến năm 2019. Quá trình chung sống, bà T và ông K đã xây dựng công trình kiên cố trên đất, sử dụng thửa đất một cách công khai, liên tục trong thời gian dài. Khi còn sống, cụ S và cụ G đều không có ý kiến gì về việc vợ chồng ông K xây các công trình này. Trước khi chết, cụ S và cụ G đều không để lại di chúc, không có bất kỳ văn bản nào xác định chỉ tặng cho thửa đất cho riêng một mình ông K; cũng không có tài liệu nào thể hiện bà T công nhận đất là tài sản riêng của ông K. Quá trình sử dụng, ông K và bà T đã nhiều lần thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn. Bà T có nhiều công sức đóng góp vào việc tôn tạo thửa đất. Hàng năm, bà T là người trực tiếp nộp thuế sử dụng đất. Trong suốt thời gian sống chung, ông K và cụ G không ai nói gì về việc thửa đất là của riêng ông K. Năm 2000, ông K đã được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 48. Tuy nhiên, việc ông K đứng tên trên GCNQSDĐ không có nghĩa là tài sản của riêng ông K. Vì theo Luật Đất đai năm 1993 không có quy định bắt buộc trên GCNQSDĐ phải có tên cả 02 vợ chồng. Mặc dù ông K và ông Nguyễn Đức K1 (là anh em cùng mẹ khác cha với ông K) đều trình bày thửa đất là tài sản riêng của ông K do được cụ G tặng cho riêng, nhưng các ông đều không đưa được ra tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Do vậy, cần xác định thửa đất số 48, tờ bản đồ số 9, diện tích là 348m² là tài sản chung của vợ chồng chứ không phải là tài sản riêng của ông K.

[2.2] Đối với các tài sản gắn liền với đất gồm nhà mái bằng, nhà ăn, nhà tắm, nhà bếp, nhà vệ sinh... ông K và bà T đều xác định đây là tài sản chung của vợ chồng. Theo ông K trình bày ngoài nguồn tiền của vợ chồng, các con ông cũng đóng góp công sức với vợ chồng ông để xây dựng lên các công trình này. Tuy nhiên, ông K không đưa ra được căn cứ chứng minh về công sức đóng góp cụ thể của các con là bao nhiêu. Bà T xác định con cái không có công sức đóng góp gì vào khối tài sản chung của ông bà, nếu có cũng là cho vợ chồng. Do vậy, không có căn cứ xem xét trích trả công sức của các con trong khối tài sản chung như ông K trình bày.

[2.3] Do ông K và bà T đều có nhu cầu về chỗ ở nên Tòa án cấp sơ thẩm đã phân chia cho ông bà mỗi người sử dụng một phần thửa đất, đồng thời xem xét đến nguồn gốc đất để phân chia tài sản, cụ thể chia đất theo tỷ lệ 55% cho ông K, 45% cho bà T; đối với các công trình gắn liền với đất chia cho mỗi người được hưởng 1/2 giá trị tài sản là phù hợp với thực tế và đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự.

Theo kết quả đo vẽ thẩm định thì diện tích đất theo hiện trạng sử dụng là 373,1m², trong đó diện tích đất được sử dụng hợp pháp là 348m², diện tích đất dôi dư là 25,1m². Trên phần diện tích đất 348m² có nhà mái bằng, công trình phụ gồm nhà ăn, nhà tắm, bể nước đã được xây gọn vào một phần thửa đất, diện tích còn lại là đất trống không có công trình. Do vậy, sau khi trích một phần đất làm lối đi chung, Tòa án cấp sơ thẩm đã chia phần đất có nhà mái bằng và công trình phụ cho ông K sử dụng để thờ cúng gia tiên, chia cho bà T phần đất trống để bà T sử dụng; ông K phải trả tiền chênh lệch về giá trị đất cũng như tài sản trên đất cho bà T; đối với diện tích đất dôi dư 25,1m² thuộc quyền quản lý của UBND xã T, nằm liền kề với phần đất ông K được chia nên cấp sơ thẩm tiếp tục tạm giao cho ông K sử dụng là hợp lý, đảm bảo sự ổn định và giá trị sử dụng của thửa đất.

[2.4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông K, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[2.5] Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, ông K có đơn đề nghị Tòa án phân chia tài sản chung là 40m² đất do bố mẹ bà T tặng cho vợ chồng ông trong thời kỳ hôn nhân. Xét thấy nội dung này ông K không yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết nên cấp phúc thẩm không có căn cứ để xem xét.

[3]. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Trong quá trình giải quyết vụ án, bà T đã chi phí đo đạc, thẩm định và định giá tài sản hết số tiền 4.700.000 đồng và yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật. Do phải chia tài sản chung nên mỗi người phải chịu một nửa tiền chi phí xem xét, thẩm định, định giá là đúng quy định của pháp luật. Do bà T đã bỏ tiền chi phí nên ông K phải hoàn trả bà T ½ số tiền trên.

[4] Về án phí: Do bà T và ông K đều là người cao tuổi nên bà T được miễn án phí dân sự sơ thẩm, ông K được miễn án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Quang K. Giữ nguyên Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 36/2023/HNGĐ-ST ngày 10 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ.

- Căn cứ vào các Điều 33, 59, 61, 62 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 148, khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

  1. Chấp nhận yêu cầu chia tài sản sau khi ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T.
  2. Về tài sản chung:
    1. Xác định thửa đất số 48, tờ bản đồ số 9, diện tích 348m², địa chỉ thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương, đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 11/6/2001 mang tên ông Nguyễn Công K3 (tức Nguyễn Quang K) và các tài sản gắn liền với đất gồm: 01 nhà mái bằng, 01 nhà ăn, 01 nhà tắm, 01 bể nước (đã được định giá) và các tài sản khác gồm 01 giếng khơi, 01 sân giếng, 01 nhà kho, 01 gian bếp, 01 nhà vệ sinh, 01 sân cạnh bếp, 01 sân lát gạch đỏ, sân trạt bê tông, tường bao, cây trồng trên đất (các tài sản đương sự không yêu cầu định giá) là tài sản chung của bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Quang K.
    2. Xác định giá trị thửa đất số 48, tờ bản đồ số 9, diện tích 348m² là 363.840.000 đồng. Trích 18m² đất trồng cây lâu năm làm lối đi chung thì giá trị thửa đất còn lại để chia là 362.400.000 đồng. Chia cho bà T 45% giá trị thửa đất là 163.080.000 đồng. Chia cho ông K 55% giá trị thửa đất là 199.320.000 đồng. Tổng giá trị các tài sản gồm nhà mái bằng, nhà ăn, nhà tắm, bể nước là 136.839.000 đồng. Ông K, bà T mỗi người được hưởng 1/2 giá trị tài sản là 68.419.500 đồng. Tổng tài sản bà Nguyễn Thị T được chia là 231.499.500 đồng; ông Nguyễn Quang K được chia là 267.739.500 đồng.
  3. Chia hiện vật:
    1. Trích 18 m² đất trồng cây lâu năm tại thửa số 48, tờ bản đồ số 9, địa chỉ thôn N, xã T, huyện T làm lối đi chung, được giới hạn bởi các điểm A12,A13,C1,C2,A10,A11 đến A12. Buộc ông Nguyễn Quang K (tức Nguyễn Công K3) phải tháo dỡ hai cánh cổng, di chuyển cây ra chỗ khác để mở lối đi chung (ông K3 được sử dụng hai cánh cổng và cây trên phần đất mở lối đi khi di chuyển).
    2. Giao cho ông Nguyễn Quang K (tức Nguyễn Công K3) được quyền sử dụng diện tích 230m² (gồm 200m² đất ở và 30m² đất trồng cây lâu năm) tại thửa số 48, tờ bản đồ số 9, địa chỉ ở thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương, được giới hạn bởi các điểm C1,A1,A2,A3,B1,B2,A7,C3,C2 đến C1 và các tài sản gắn liền với đất đã định giá gồm 01 nhà mái, 01 nhà ăn, 01 nhà tắm, 01 bể nước. Tổng trị giá 379.239.000 đồng.
    3. Giao cho bà Nguyễn Thị T được quyền sử dụng diện tích 100m2 đất ở tại thửa số 48, tờ bản đồ số 9, địa chỉ ở thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương, được giới hạn bởi các điểm A10,C2,C3,A8,A9 đến A10. Tổng giá trị 120.000.000đồng.
    4. Ông Nguyễn Quang K (ông Nguyễn Công K3) phải thanh toán trả giá trị chênh lệch tài sản cho bà Nguyễn Thị T là 111.499.500 đồng.
    5. Tạm giao cho ông K3 sử dụng phần diện tích đất dôi dư 25,1m² thuộc quyền quản lý của UBND xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Khi UBND xã T xử lý đất dôi dư do lấn chiếm thì ông K3 phải nghiêm chỉnh chấp hành.
    6. Đối với các tài sản khác gồm 01 giếng khơi, 01 sân giếng, 01 nhà kho, 01 gian bếp, 01 nhà vệ sinh, 01 sân cạnh bếp, 01 sân lát gạch đỏ, sân trạt bê tông, tường bao, cây trồng trên đất (các tài sản đương sự không yêu cầu định giá) nằm trên phần đất của ai được giao, người đó được quyền sử dụng. Ông K3 phải di chuyển các cây cảnh trồng trong chậu đi nơi khác để trả đất cho bà T sử dụng.
    7. Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

    (Toàn bộ ranh giới, mốc giới đối với diện tích đất, tài sản trên đất đã phân chia có sơ đồ kèm theo).

  4. Về chi phí xem xét thẩm định, định giá: Buộc ông Nguyễn Quang K (tức Nguyễn Công K3) phải thanh toán trả bà Nguyễn Thị T 2.350.000 đồng tiền chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định, định giá tài sản.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  5. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị T. Miễn án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm cho ông Nguyễn Quang K.
  6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (20/12/2023)./.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - TAND huyện Tứ Kỳ;
  • - VKSND huyện Tứ Kỳ;
  • - Chi cục THADS huyện Tứ Kỳ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Chất

SƠ ĐỒ PHÂN CHIA QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

Vụ án Hôn nhân gia đình về việc tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn

Giữa nguyên đơn: bà Nguyễn Thị T và bị đơn: Ông Nguyễn Quang K

Địa chỉ thửa đất: thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương

(Kèm theo Bản án số 34/2023/HNGĐ-PT ngày 20/12/2023 của TAND tỉnh Hải Dương)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2023/HNGĐ-PT ngày 20/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp về chia tài sản sau khi ly hôn

  • Số bản án: 34/2023/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp về chia tài sản sau khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị T yêu cầu chia tài sản sau khi ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger