TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2024/HS-ST Ngày: 25-4-2024. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Tần Quốc Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Thanh Nga.
- Bà Đinh Kim Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phan Quế Anh - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 38/2024/HSST ngày 09 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Đại Đ (tên gọi khác: Không); Giới tính: N; Sinh năm 1984 tại TP.; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: B61/7 X, Phường A, Quận D, TP.; Nơi cư trú: Block E, 4.3 chung cư P đường N, xã P, huyện N, TP.; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn Q (sinh năm 1954) và bà Nguyễn Thị B (sinh năm 1954); Anh chị em: Không có; Vợ: Đỗ Thị Ngọc T (sinh năm 2001); Con: Nguyễn Đỗ Thúy Q1 (sinh năm 2019), Nguyễn Ngọc Như Ý (sinh năm 2020), Nguyễn Kiều Khánh N1 (sinh năm 2021); Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/12/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Thái Thị Hồng L, sinh năm: 1969 “vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt”.
- Nguyễn Phương V, sinh năm: 1988 “vắng mặt”.
Địa chỉ: Số A đường T, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Số A đường T, Phường A, Quận D Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 01/2023, Nguyễn Đại Đ cho một số người vay tiền lấy lãi nhằm kiếm thu nhập tiêu xài. Đ cho vay bằng hình thức vay tiền “đứng” (đóng tiền lãi mỗi ngày). Từ tháng 01/2023 đến ngày 13/12/2023 Nguyễn Đại Đ đã cho Thái Thị Hồng L và Nguyễn Phương V vay tiền, cụ thể như sau:
1. Thái Thị Hồng L (Sinh năm: 1969, ngụ: 1 T, Phường A, Quận D). Đầu tháng 01/2023 L vay của Đ 30.000.000 đồng bằng hình thức đóng tiền lãi mỗi ngày với lãi suất 01%/01 ngày (tương đương 30%/tháng, 365%/năm), mỗi ngày L đóng 300.000 đồng tiền lãi cho Đ vào tài khoản 002052893 ngân hàng VIB của Đ. Từ ngày 06/01/2023 đến ngày 22/11/2023, L đóng tiền lãi cho Đ tổng cộng là 82.850.000 đồng (trong đó: tiền lãi tương ứng mức cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự là 4.602.778 đồng, tiền lãi bất hợp pháp là 78.247.222 đồng).
2. Nguyễn Phương V (Sinh năm: 1988, ngụ: 1 T, Phường A, Quận D).
Lần 1: Vào ngày 17/6/2023, V vay Đ số tiền 15.000.000 đồng bằng hình thức đóng tiền lãi mỗi ngày với lãi suất 01%/01 ngày (tương đương 30%/tháng, 365%/năm), mỗi ngày V đóng 150.000 đồng tiền lãi cho Đ vào tài khoản 002052893 ngân hàng VIB của Đ đến ngày 06/7/2023 là 2.850.000 đồng (trong đó: tiền lãi tương ứng mức cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự là 158.327 đồng, tiền lãi bất hợp pháp là 2.691.673 đồng).
Lần 2: Vào ngày 06/7/2023, V vay Đ thêm số tiền 5.000.000 đồng (tổng cộng V nợ Đ 20.000.000 đồng) bằng hình thức đóng tiền lãi mỗi ngày với lãi suất 01%/01 ngày (tương đương 30%/tháng, 365%/năm), mỗi ngày V đóng 200.000 đồng tiền lãi cho Đ vào tài khoản 002052893 ngân hàng VIB của Đ đến ngày 03/8/2023 là 5.400.000 đồng (trong đó: tiền lãi tương ứng mức cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự là 300.000 đồng, tiền lãi bất hợp pháp là 5.100.000 đồng).
Lần 3: Vào ngày 03/8/2023, V vay Đ thêm số tiền 10.000.000 đồng (tổng cộng V nợ Đ 30.000.000 đồng) bằng hình thức đóng tiền lãi mỗi ngày với lãi suất 01%/01 ngày (tương đương 30%/tháng, 365%/năm), mỗi ngày V đóng 300.000 đồng tiền lãi cho Đ vào tài khoản 002052893 ngân hàng VIB của Đ đến ngày 08/8/2023 là 900.000 đồng (trong đó: tiền lãi tương ứng mức cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự là 50.000 đồng, tiền lãi bất hợp pháp là 850.000 đồng).
Lần 4: Vào ngày 09/8/2023, V vay Đ thêm số tiền 20.000.000 đồng (tổng cộng V nợ Đ 50.000.000 đồng) bằng hình thức đóng tiền lãi mỗi ngày với lãi suất 0,8%/01 ngày (tương đương 24%/tháng, 288%/năm), mỗi ngày V đóng 400.000 đồng tiền lãi cho Đ vào tài khoản 002052893 ngân hàng VIB của Đ đến ngày 22/11/2023 là 36.000.000 đồng (trong đó: tiền lãi tương ứng mức cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự là 3.333.333 đồng, tiền lãi bất hợp pháp là 32.666.667 đồng).
Như vậy qua 04 lần cho V vay tiền, Đ đã thu lợi hợp pháp là 3.841.660, thu lợi bất hợp pháp là 41.308.340 đồng.
Tổng số tiền Nguyễn Đại Đ đã cho Thái Thị Hồng L và Nguyễn Phương V là 80.000.000 đồng và thu tiền lãi tương ứng mức cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự là 8.444.438, thu lợi bất chính là 119.555.562 đồng.
Vật chứng vụ án: 01 điện thoại di động iphone 14 pro max. Đ dùng để lưu số điện thoại người vay và gọi điện thoại đòi tiền vay.
Tại bản cáo trạng số 38/CT-VKS ngày 08/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo Nguyễn Đại Đ về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/12/2023 có mặt, thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, đồng thời xin được giảm nhẹ một phần hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Đại Đ về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đại Đ từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù giam.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc Nguyễn Đại Đ trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Thái Thị Hồng L số tiền lãi suất vượt 20% năm là 78.247.222 đồng (bảy mươi tám triệu hai trăm bốn mươi bảy nghìn hai trăm hai mươi hai nghìn đồng).
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Phương V có đơn không yêu cầu bồi thường dân sự đề ngày 27/02/2024 nên không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về xử vật chứng: Đề nghị tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền Nguyễn Đại Đ cho 2 người vay tiền là 80.000.000 đồng; Tịch thu sung công nhà nước 01 (một) điện thoại di động iphone 14 pro max.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q2, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
[2]. Tại Cơ quan điều tra cũng như quá trình chuẩn bị xét xử, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Qua lời khai của bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Nguyễn Đại Đ đã có hành vi dùng tiền để cho vay vượt quá 05 lần quy định pháp luật cho phép nhằm th lợi bất chính với tổng số tiền 119.555.562 đồng là đã xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, ảnh hưởng đến lợi ích của người đi vay, gây mất trật tự tại địa phương. Bị can Đ nhận thức rõ được hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi, muốn có tiền một cách nhanh chóng nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[3]. Hành vi cho vay lãi nặng của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về tín dụng, trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ được pháp luật bảo vệ và xâm phạm đến lợi ích công dân. Do đó, để góp phần đấu tranh loại bỏ tệ nạn cho vay tín dụng đen cần áp dụng hình phạt phù hợp nhằm trừng trị, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4]. Về xử lý tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm: Căn cứ Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
4.1. Đối với số tiền cho vay gốc được xác định là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước là 80.000.000 đồng, gồm:
4.1.1. Đối với Thái Thị Hồng L:
Đầu tháng 01/2023, Thái Thị Hồng L vay của Nguyễn Đại Đ 30.000.000 đồng bằng hình thức đóng tiền lãi mỗi ngày với lãi suất 01%/01 ngày (tương đương 30%/tháng, 365%/năm), mỗi ngày L đóng 300.000 đồng tiền lãi cho Đ vào tài khoản 002052893 ngân hàng VIB của Đ. Từ ngày 06/01/2023 đến ngày 22/11/2023, L đóng tiền lãi cho Đ tổng cộng là 82.850.000 đồng (trong đó: tiền lãi tương ứng mức cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự là 4.602.778 đồng, tiền lãi bất hợp pháp là 78.247.222 đồng). Số tiền gốc 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng L chưa trả cho Đ chưa trả nên buộc L nộp lại số tiền gốc là phương tiện phạm tội mà bị cáo Nguyễn Đại Đ đã cho L vay chưa trả.
4.1.2. Đối với Nguyễn Phương V:
Lần 1: Vào ngày 17/6/2023, V vay Đ số tiền 15.000.000 đồng bằng hình thức đóng tiền lãi mỗi ngày với lãi suất 01%/01 ngày (tương đương 30%/tháng, 365%/năm), mỗi ngày V đóng 150.000 đồng tiền lãi cho Đ vào tài khoản 002052893 ngân hàng VIB của Đ đến ngày 06/7/2023 là 2.850.000 đồng (trong đó: tiền lãi tương ứng mức cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự là 158.327 đồng, tiền lãi bất hợp pháp là 2.691.673 đồng).
Lần 2: Vào ngày 06/7/2023, V vay Đ thêm số tiền 5.000.000 đồng (tổng cộng V nợ Đ 20.000.000 đồng) bằng hình thức đóng tiền lãi mỗi ngày với lãi suất 01%/01 ngày (tương đương 30%/tháng, 365%/năm), mỗi ngày V đóng 200.000 đồng tiền lãi cho Đ vào tài khoản 002052893 ngân hàng VIB của Đ đến ngày 03/8/2023 là 5.400.000 đồng (trong đó: tiền lãi tương ứng mức cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự là 300.000 đồng, tiền lãi bất hợp pháp là 5.100.000 đồng).
Lần 3: Vào ngày 03/8/2023, V vay Đ thêm số tiền 10.000.000 đồng (tổng cộng V nợ Đ 30.000.000 đồng) bằng hình thức đóng tiền lãi mỗi ngày với lãi suất 01%/01 ngày (tương đương 30%/tháng, 365%/năm), mỗi ngày V đóng 300.000 đồng tiền lãi cho Đ vào tài khoản 002052893 ngân hàng VIB của Đ đến ngày 08/8/2023 là 900.000 đồng (trong đó: tiền lãi tương ứng mức cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự là 50.000 đồng, tiền lãi bất hợp pháp là 850.000 đồng).
Lần 4: Vào ngày 09/8/2023, V vay Đ thêm số tiền 20.000.000 đồng (tổng cộng V nợ Đ 50.000.000 đồng) bằng hình thức đóng tiền lãi mỗi ngày với lãi suất 0,8%/01 ngày (tương đương 24%/tháng, 288%/năm), mỗi ngày V đóng 400.000 đồng tiền lãi cho Đ vào tài khoản 002052893 ngân hàng VIB của Đ đến ngày 22/11/2023 là 36.000.000 đồng (trong đó: tiền lãi tương ứng mức cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự là 3.333.333 đồng, tiền lãi bất hợp pháp là 32.666.667 đồng).
Như vậy qua 04 lần cho V vay tiền, Đ đã thu lợi hợp pháp là 3.841.660, thu lợi bất hợp pháp là 41.308.340 đồng.
Số tiền gốc là 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng V chưa trả cho Đ chưa trả nên buộc V nộp lại số tiền gốc là phương tiện phạm tội mà bị cáo Nguyễn Đại Đ đã cho V vay chưa trả.
4.2. Đối với số tiền tương ứng với mức lãi suất 20%/năm tuy không bị tính khi xác định trách nhiệm hình sự, nhưng cũng là khoản tiền phát sinh từ tội phạm nên cần thiết phải tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Do đó, bị cáo Nguyễn Đại Đ phải có trách nhiệm nộp lại số tiền lãi phát sinh từ tội phạm tương ứng với mức lãi suất 20%/năm từ việc cho vay đối với:
- Thái Thị Hồng L là 4.602.778 đồng.
- Nguyễn Phương V là 3.841.660 đồng.
Do không có căn cứ để xác định những người vay tiền của các bị cáo sử dụng vào mục đích bất hợp pháp (như đánh bạc, mua bán trái phép chất ma túy, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ...) nên đề nghị trả lại cho những người đã vay của các bị cáo khoản tiền thu lợi bất chính mà bị cáo Nguyễn Đại Đ thực tế đã thu, gồm:
- Buộc bị cáo Nguyễn Đại Đ trả lại cho Thái Thị Hồng L số tiền thu lợi bất chính từ việc cho vay là 78.247.222 đồng.
- Số tiền thu lợi bất chính từ việc cho bà Nguyễn Phương V vay là 41.308.340 đồng, do bà V không có yêu cầu bị cáo bồi thường nên tịch thu, xung công nhà nước.
4.3. Hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Đại Đ phải chịu hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 với mức phạt tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Đại Đ không yêu cầu những người liên quan trả lại số tiền còn nợ nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6]. Về xử lý vật chứng:
- 01 điện thoại di động iphone 14 pro max. Đ dùng để lưu số điện thoại người vay và gọi điện thoại đòi tiền vay. Xét, đây là phương tiện bị cáo dùng để phạm tội nên cần tịch thu sung công nhà nước.
[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ khoản 2 Điều 201, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 35 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đại Đ: 06 (sáu) tháng tù giam về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2023.
2. Căn cứ Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự:
2.1. Buộc những người đã vay tiền của Nguyễn Đại Đ phải nộp lại số tiền nợ gốc chưa trả để sung quỹ nhà nước:
- - Buộc Thái Thị Hồng L nộp lại số tiền gốc là phương tiện phạm tội mà bị cáo Nguyễn Đại Đ đã cho Thái Thị Hồng L vay chưa trả là 30.000.000 đồng.
- - Buộc Nguyễn Phương V nộp lại số tiền gốc là phương tiện phạm tội mà bị cáo Nguyễn Đại Đ đã cho Nguyễn Phương V vay chưa trả là 50.000.000 đồng.
2.2. Buộc bị cáo Nguyễn Đại Đ nộp lại số tiền lãi phát sinh từ tội phạm tương ứng với mức lãi suất 20%/năm từ việc cho vay đối với: Thái Thị Hồng L là 4.602.778 đồng; Nguyễn Phương V là 3.841.660 đồng.
2.3. Buộc bị cáo Nguyễn Đại Đ trả lại cho những người đã vay những khoản tiền thu lợi bất chính mà bị cáo thực tế đã thu. Cụ thể như sau:
- - Buộc bị cáo Nguyễn Đại Đ trả lại cho Thái Thị Hồng L số tiền thu lợi bất chính từ việc cho vay là 78.247.222 đồng.
- - Số tiền thu lợi bất chính từ việc cho bà Nguyễn Phương V vay là 41.308.340 đồng, do bà V không có yêu cầu bị cáo bồi thường nên tịch thu, xung công nhà nước.
2.4. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Đại Đ còn phải chịu hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 với mức phạt tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền phải trả cho người thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
3. Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2021 và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
- Tịch thu sung công Nhà nước: 01 điện thoại di động iphone 14 pro max. Đ dùng để lưu số điện thoại người vay và gọi điện thoại đòi tiền vay.
(Vật chứng được tạm giữ theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 50/2024 ngày 17/4/2024 giữa Công an Q2 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh).
4. Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2021; Luật phí và lệ phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
5. Căn cứ Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2021:
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Tần Quốc Bình |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tần Quốc Bình |
Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 34/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: nguyễn đại đức
