|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2024/HS-ST Ngày 19-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tài
Các hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Phi Long
Ông Trần Văn Nước
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Chăm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải tham gia phiên tòa:
Ông Trương Thanh Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Hoàng T, sinh ngày 15/10/1957 tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp Hạ, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Nghề nghiệp: Chụp hình; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H (chết) và bà Ngô Thị H1 (chết); có vợ là Nguyễn Thị M, sinh năm 1956 và 05 người con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Bị Ủy ban nhân dân thị xã D, tỉnh Trà Vinh xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 5.000.000 đồng về hành vi đánh bạc, theo Quyết định số 3610/QĐ-XPVPHC ngày 08/12/2016. (bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Mai Thị M1, sinh ngày 08/3/1981 tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn P (chết) và bà Đường Thị N, sinh năm 1942; có chồng là Huỳnh Tấn H2, sinh năm 1977 và 02 người con; tiền án, tiền sự: Không có. (bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Trần Tấn T1, sinh ngày 01/01/1988 tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp C, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Nghề nghiệp: Xây dựng.; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị M2, sinh năm 1969; có vợ là Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm 1990 và 02 người con; tiền án, tiền sự: Không có. (bị cáo có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do quen biết nhau nên bị cáo Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1957, trú ấp H, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh, hiện nay ở ấp C, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh và bị cáo Mai Thị M1, sinh năm 1981, trú ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh thỏa thuận ghi số đề cho người chơi số đề để thu lợi bất chính, với hình thức người chơi bỏ tiền ra mua một hay nhiều con số của các đài xổ số trong ngày và bị cáo T sẽ ghi lại thông tin người mua, con số, số tiền, đài xổ số còn việc ăn thua thì người chơi mua một con số 100.000 đồng, nếu trúng thì được bị cáo M1 trả 7.000.000 đồng, không trúng thì mất 100.000 đồng, khi người chơi mua nhiều số hoặc bao lô thì vẫn sẽ tính theo hình thức như trên. Mỗi ngày sau khi ghi xong lô số đề thì bị cáo T sẽ tổng hợp lại những con số, số tiền, đài xổ số tương ứng của người mua rồi chụp hình chuyển từ Zalo của bị cáo T (Zalo tên Nguyen H) cho bị cáo M1 (Zalo tên Huỳnh Gia H3) và bị cáo T sẽ được trích hưởng 4% trên tổng số tiền đã ghi lô số đề, còn bị cáo M1 thì hưởng tổng số tiền còn lại đã ghi lô số đề trong ngày. Do biết bị cáo M1 và bị cáo T tổ chức ghi lô số đề ăn thua bằng tiền nên khoảng 17 giờ 20 ngày 28/5/2023 Trần Văn K, sinh năm 1969, trú ấp N, xã T, thị xã D đã gặp bị cáo T tại ấp C, xã T, thị xã D để kêu ghi đề số 71 bao lô đài Miền Bắc 10.000 đồng (Miền Bắc chỉ có 01 đài), thành tiền 200.000 đồng, khi bị cáo T đang nhận tiền thì bị Công an bắt quả tang thu giữ 01 một cuốn sổ ghi số đề và một số tang vật còn liên quan.
Tại bản kết luận giám định số 691/KL-KTHS ngày 15/9/2023 của của Phòng K1 Công an tỉnh T đã kết luận: Chữ ký, chữ viết mang tên Nguyễn Hoàng T trên quyển tập học sinh hiệu HP Book có kích thước 15.5cm x 20.5cm, gồm có 22 tờ bao gồm cả bìa, trong đó 07 tờ có chữ ký và chữ viết được đánh số lần lượt 1,2,3,4,5,6,7 ghi ngày 28/5/2023 (ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Hoàng T trên các tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M1, M2, M3, M4) do cùng một người ký, viết ra.
Qua điều tra còn chứng minh được từ khoảng 15 giờ 25 phút ngày 28/5/2023 đến khi bị bắt quả tang thì bị cáo T còn ghi lô số đề cụ thể như sau:
Lần 1: Bị cáo T ghi đề cho bị cáo Trần Tấn T1 số 19, số 30 bao lô đài Tiền Giang, Kiên Giang, Đ mỗi số bị cáo T1 đánh 100.000 đồng, thành tiền 7.800.000 đồng, ngoài ra bị cáo T1 còn đá xuyên với bị cáo T số 19, số C đài T, Kiên Giang, Đ 20.000 đồng, thành tiền 2.600.000 đồng và bị cáo T1 đã đưa cho bị cáo T 10.400.000 đồng (7.800.000 đồng + 2.600.000 đồng). Kết quả xổ số ngày 28/5/2023 thì bị cáo T1 trúng số 30 đài Kiên Giang được 7.000.000 đồng, còn đá xuyên thì không trúng nên tiền tham gia đánh bạc kể cả tiền trúng thưởng của bị cáo T1 là 17.400.000 đồng (10.400.000 đồng + 7.000.000 đồng) nhưng bị cáo T chưa đưa tiền cho bị cáo T1.
Lần 2: Bị cáo T ghi đề cho Lâm Văn G, sinh năm 1961, trú ấp N, xã T, thị xã D số 13 bao lô đài Đà Lạt 20.000 đồng thành tiền là 260.000 đồng và Lâm Văn G chưa đưa tiền cho bị cáo T. Kết quả xổ số 28/5/2023 thì Lâm Văn G trúng số 13 đài Đ 1.400.000 đồng nhưng bị cáo Tấn T chưa đưa tiền cho Lâm Văn G.
Lần 3: Bị cáo T ghi đề cho Nguyễn Danh A, sinh năm 1983, trú ấp L, xã D, thị xã D số 11 bao lô đài Tiền Giang, Kiên Giang, Đ 20.000 đồng, thành tiền 780.000 đồng, ngoài ra bị cáo T còn ghi đề tiếp cho Nguyễn Danh A số 12 bao lô đài Kon Tum, Khánh Hòa, Thừa Thiên H4 10.000 đồng, thành tiền 390.000 đồng và Nguyễn Danh A chưa đưa cho bị cáo T 1.170.000 đồng. Kết quả xổ số 28/5/2023 thì Nguyễn Danh A trúng số 11 đài Đ 1.400.000 đồng nhưng bị cáo T chưa đưa tiền cho Nguyễn Danh A.
Lần 4: Bị cáo T xác định ghi đề cho người tên G1 số 92 bao lô đài Tiền Giang, Kiên Giang, Đ 10.000 đồng, thành tiền 390.000 đồng và người tên G1 chưa đưa tiền cho bị cáo T. Kết quả xổ số 28/5/2023 thì người tên G1 không trúng thưởng. Trong sổ ghi đề của bị cáo T chỉ thể hiện người tên G1 nhưng không ghi địa chỉ cụ thể G1 ở đâu, Cơ quan điều tra có làm việc với nam thanh niên tên Phan Trường G2, sinh năm 1991, trú ấp C, xã T, thị xã D nhưng Phan Trường G2 không thừa nhận đánh đề với bị cáo T.
Lần 5: Bị cáo T ghi đề cho Nguyễn Quốc S, sinh năm 1984, trú ấp C, xã T, thị xã D số 90 bao lô đài Kiên Giang 20.000 đồng, thành tiền là 260.000 đồng và Nguyễn Quốc S còn đá xuyên với Nguyễn Hoàng T số 90, số A đài T, Kiên Giang, Đ 2.500 đồng, thành tiền 325.000 đồng, ngoài ra bị cáo T còn ghi đề tiếp cho Nguyễn Quốc S số 59 đài Miền B 200.000 đồng nhưng Nguyễn Quốc S chưa đưa cho bị cáo T 785.000 đồng (260.000 + 325.000 đồng + 200.000 đồng). Kết quả xổ số 28/5/2023 thì Nguyễn Quốc S trúng số 59 đài Miền Bắc 700.000 đồng, còn đá xuyên thì không trúng nhưng bị cáo T chưa đưa tiền cho Nguyễn Quốc S.
Lần 6: Là lần bị cáo T đã ghi đề cho Trần Văn K số 71 bao lô đài Miền Bắc 10.000 đồng thành tiền 200.000 đồng, khi đang nhận tiền thì bị bắt quả tang. Kết quả xổ số 28/5/2023 thì Trần Văn K trúng số 71 đài Miền Bắc 700.000 đồng nhưng bị cáo T chưa đưa tiền cho Trần Văn K.
Quá trình điều tra xác định bị cáo T được bị cáo M1 phân công ghi số đề chỉ thu được từ bị cáo T1 số tiền 10.400.000 đồng trong tổng số tiền đã ghi sồ đề 13.205.000 đồng và T giữ lại 400.000 đồng để đánh số đề hình thức đá xuyên với bị cáo T1 và Nguyễn Quốc S, còn lại 12.805.000 đồng thì bị cáo T đã chuyển hình ảnh phơi đề cho bị cáo M1 chứ chưa đưa tiền mặt (trong 12.805.000 đồng T được hưởng 3,25% tương đương 416.000 đồng) nên phải chịu trách nhiệm về tội Tổ chức đánh bạc với tổng số tiền các đối tượng dùng đánh bạc trong cùng một lần là 24.405.000 đồng (13.205.000 đồng + 11.200.000 đồng). Đối với bị cáo M1 là chủ thầu đề hưởng lợi do T ghi số đề, trước khi bị bắt T chỉ mới chuyển hình ảnh phơi đề 12.805.000 đồng và hình ảnh kết quả xổ số đài miền N cho M1 trong đó có T1, G, Danh A trúng thưởng 9.800.000 đồng, còn kết quả xổ số đài Miền B mà S, K cược trúng thưởng 1.400.000 đồng thì T chưa chuyển nên phải chịu trách nhiệm về tội Tổ chức đánh bạc với tổng số tiền các đối tượng dùng đánh bạc trong cùng một lần là 22.605.000 đồng (12.805.000 đồng + 9.800.000 đồng). Đối với bị cáo T1 là người trực tiếp cược với bị cáo M1 thông qua bị cáo T ghi số đề 7.800.000 đồng và cược đá xuyên với bị cáo T 2.600.000 đồng, trúng thưởng 7.000.000 đồng nên phải chịu trách nhiệm về tội Đánh bạc với tổng số tiền dùng đánh bạc kể cả số tiền chơi đánh bạc trúng thưởng trong cùng một lần là 17.400.000 đồng (10.400.000 đồng + 7.000.000 đồng).
Đối với hành vi đánh bạc của Nguyễn Hoàng T, Lâm Văn G, Nguyễn Danh A, Nguyễn Quốc S, Trần Văn K do chưa có tiền án, tiền sự về tội đánh bạc và tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, số tiền sử dụng đánh bạc dưới mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan Công an đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính và xử lý toàn bộ tang vật có liên quan.
Đối với người tên G2 trong sổ ghi đề của bị cáo T do không xác định được nhân thân lai lịch nên không thể ra quyết định truy tìm người để xử lý. Đối với người tên Phan Trường G2 không thừa nhận việc đánh đề với Nguyễn Hoàng T nên không có cơ sở để xử lý hình sự.
Tại Cáo trạng số 46/CT-VKS-HS ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng T và Mai Thị M1 tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Trần Tấn T1 tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa cả ba bị cáo đều đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Kiểm sát viên trình bày quan điểm luận tội, giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Tấn T1 phạm tội đánh bạc; bị cáo Nguyễn Hoàng T, Mai Thị M1 phạm tội Tổ chức đánh bạc.
a) Về trách nhiệm hình sự:
-Đối với bị cáo Trần Tấn T1: Áp dụng khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 35 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Tấn T1 từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
- Đối với bị cáo Mai Thị M1: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 35 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Mai Thị M1 từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.
- Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng T: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 35 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.
b) Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
- + 01 tờ tiền Việt Nam chủng loại Polyme mệnh giá 200.000 đồng;
- + Số tiền Việt Nam mệnh giá 10.400.000 đồng chủng loại P1 (Trong đó có 20 tờ 500.000 đồng, 02 tờ 200.000 đồng);
- + 01 điện thoại di động hiệu ACE có sim số 0352.606.651 đã qua sử dụng;
- + 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung có sim số 0919.541.901 đã qua sử dụng;
- +01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen có sim số 0387.678.299 đã qua sử dụng;
- + 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen loại bàn phím có gắn sim số 0396.726.076 đã qua sử dụng;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Mai Thị M1 và Trần Tấn T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố, thể hiện khoảng 15 giờ 25 phút đến 17 giờ 20 ngày 28/5/2023 bị cáo Nguyễn Hoàng T đã ghi số đề cho Trần Tấn T1, Lâm Văn G, Nguyễn Danh A, một người tên G2, Nguyễn Quốc S và Trần Văn K với với tổng số tiền các đối tượng dùng đánh bạc trong cùng một lần là 24.405.000 đồng, khi bị cáo T đang nhận số tiền 200.000 đồng từ Trần Văn K thì bị Công an bắt quả tang tại ấp C, xã T, thị xã D, tỉnh Trà Vinh và Nguyễn Hoàng T chỉ mới lấy được của bị cáo Trần Tấn T1 10.400.000 đồng trong tổng số tiền đã ghi số đề. Trước khi bị bắt bị cáo Nguyễn Hoàng T đã chuyển hình ảnh phơi đề và hình ảnh tiền trúng thưởng do đánh đề cho bị cáo Mai Thị M1 với tổng số tiền các đối tượng dùng đánh bạc trong cùng một lần là 22.605.000 đồng. Đối với bị cáo Trần Tấn T1 là người trực tiếp đánh bạc với bị cáo Mai Thị M1 thông qua việc ghi đề từ bị cáo Nguyễn Hoàng T và trực tiếp cược hình thức đá xiên với bị cáo T, số tiền đánh bạc trong cùng một lần của bị cáo T1 là 17.400.000 đồng. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Mai Thị M1 đã đủ yếu tố cầu thành tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Tấn T1 phạm vào tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Như vậy cáo trạng số 46/CT-VKS-HS ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, truy tố các bị cáo Nguyễn Hoàng T, Mai Thị M1 và Trần Tấn T1 là có căn cứ đúng người, đúng tội.
[2] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, nếp sống văn minh, thực tế cho thấy tệ nạn cờ bạc không những gây ra những nguy hại nghiêm trọng cho người chơi như làm kiệt quệ kinh tế của bản thân và gia đình, gây ra mâu thuẫn, tan vỡ hạnh phúc gia đình, không những vậy tệ nạn này còn gây ảnh hưởng đến trật tự, an ninh xã hội khi luôn tập trung thành những tụ điểm đông người, phức tạp. Do đó cần xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng với hành vi và mức độ phạm tội nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Hội đồng xét xử cũng xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của từng bị cáo để xem xét một mức án phù hợp.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay cả 03 bị cáo đã thật thà khai báo và tỏ ra ăn năn hối hận về hành vi của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Tấn T1 phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Mai Thị M1 có anh ruột là liệt sĩ, là người có công với cách mạng, được nhà nước ghi nhận công lao, do đó cần xem xét cho bị cáo M1 được hưởng thêm một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[4] Về vật chứng: Số tiền 10.600.000 đồng đang bị tạm giữ là tiền dùng để đánh bạc và 04 cái điện thoại là phương tiện các bị cáo dùng để liên lạc thực hiện hành vi đánh bạc và tổ chức đánh bạc nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[5] Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Quá trình điều tra, truy tố và xét xử không có khiếu nại hoặc tố cáo đối với các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Đồng thời, các hoạt động thu thập chứng cứ đã được thực hiện đúng trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T và Mai Thị M1 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; bị cáo Trần Tấn T1 phạm tội “Đánh bạc”.
- - Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T 85.000.000 đồng.
- - Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Mai Thị M1 80.000.000 đồng.
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Trần Tấn T1 30.000.000 đồng.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
- - 01 tờ tiền Việt Nam chủng loại Polyme mệnh giá 200.000 đồng;
- - Số tiền Việt Nam mệnh giá 10.400.000 đồng chủng loại Polyme (trong đó có 20 tờ 500.000 đồng, 02 tờ 200.000 đồng);
- - 01 điện thoại di động hiệu ACE có sim số 0352.606.651 đã qua sử dụng;
- - 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung có sim số 0919.541.901 đã qua sử dụng;
- - 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen có sim số 0387.678.299 đã qua sử dụng;
- - 01 điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen loại bàn phím có gắn sim số 0396.726.076 đã qua sử dụng.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng T, Mai Thị M1 và Trần Tấn T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Tài |
||
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
|
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Tài |
8
Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH về hình sự (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)
- Số bản án: 34/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng Tấn và Mai Thị Mảnh phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; bị cáo Trần Tấn Thanh phạm tội “Đánh bạc”. - Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Tấn 85.000.000 đồng. - Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 35 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Mai Thị Mảnh 80.000.000 đồng. - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Tấn Thanh 30.000.000 đồng.
