Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LA GI

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HSST

Ngày: 19-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Công Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lữ Duy Minh

2. Ông Nguyễn Văn Quang

Thư ký phiên toà: Bà Lê Như Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân thị xã La Gi,

tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia

phiên toà: Ông Bùi Văn Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024, Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử phiên tòa hình sự sơ thẩm số: 01/2024/TB-TA ngày 08/4/2024 đối với các bị cáo:

1. Đỗ Văn N

(Tên gọi khác: Tí); Sinh năm: 1982, tại: Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố C, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Đỗ Văn N1 và bà: Lê Thị Đ; Vợ: Nguyễn Thị Thanh T (Đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 28/12/2023; bị tạm giữ từ ngày 28/12/2023 đến ngày 06/01/2024 được trả tự do; Bị cáo hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thị xã La Gi. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).

2. Nguyễn Ngọc C;

Sinh năm: 1990, tại: Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố C, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Con ông: Nguyễn Văn T1 và bà: Phan Thị M; Vợ: Phạm Ngọc Thảo N2, không có con chung; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 28/12/2023; bị tạm giữ từ ngày 28/12/2023 đến ngày 06/01/2024 được trả tự do; Bị cáo hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thị xã La Gi. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).

3. Ngô Tấn T2

(Tên gọi khác: Lụm); Sinh năm: 1986, tại: Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố B, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Trình độ học vấn: 4/12; Nghề nghiệp: Tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Ngô T3 và bà: Huỳnh Thị L; Vợ: Hồ Thị Thùy D, có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 28/12/2023; bị tạm giữ từ ngày 28/12/2023 đến ngày 06/01/2024 được trả tự do; Bị cáo hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thị xã La Gi. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).

4. Trần Nhật H;

Sinh năm: 1985, tại: Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố E, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Văn S và bà: Nguyễn Thị Kim A (Đã chết); Vợ: Bùi Thị Thúy H1, có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 28/12/2023; bị tạm giữ từ ngày 28/12/2023 đến ngày 06/01/2024 được trả tự do; Bị cáo hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thị xã La Gi. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).

5. Phạm Minh Đ1;

Sinh năm: 1990, tại: Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố D, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Con ông: Phạm D1 và bà: Nguyễn Thị B; Vợ: Nguyễn Thị Kim C1, có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 28/12/2023; bị tạm giữ từ ngày 28/12/2023 đến ngày 06/01/2024 được trả tự do; Bị cáo hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thị xã La Gi. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).

6. Lê Minh H2;

Sinh năm: 1990, tại: Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố B, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Con ông: Lê Minh T4 và bà: Võ Thị B1; Vợ: Nguyễn Thị Mỹ L1, có 03 con lớn nhất sinh năm 2015 nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 28/12/2023; bị tạm giữ từ ngày 28/12/2023 đến ngày 06/01/2024 được trả tự do; Bị cáo hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thị xã La Gi. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).

7. Trần Minh Q;

Sinh năm: 1978, tại: Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố G, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Con ông: Trần Văn S1 và bà: Nguyễn Thị Hồng T5; Vợ: Nguyễn Thị Phương M1 (Đã ly hôn), có 03 con lớn nhất sinh năm 2006 nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 28/12/2023; bị tạm giữ từ ngày 28/12/2023 đến ngày 06/01/2024 được trả tự do; Bị cáo hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thị xã La Gi. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).

8. Phạm Minh T6

(Tên gọi khác: Dởm); Sinh năm: 1991, tại: Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố D, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Phạm D1 và bà: Nguyễn Thị B; Vợ: Nguyễn Thị Ngọc T7, có 02 con lớn sinh năm 2018 nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 28/12/2023; bị tạm giữ từ ngày 28/12/2023 đến ngày 06/01/2024 được trả tự do; Bị cáo hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thị xã La Gi. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).

9. Phạm Hoài V;

Sinh năm: 1985, tại: Bình Thuận; Nơi đăng ký thường trú: Khu phố G, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở hiện nay: Khu phố C, phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Con ông: Phạm L2 (Đã chết) và bà: Nguyễn Thị B2; Vợ: Hồ Thị Ngọc H3, có 02 con lớn sinh năm 2009 nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 09/02/2018, bị công an thị xã L xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi tụ tập nhiều người nơi công cộng gây mất trật tự công cộng (Quyết định số: 0038527). Ngày 12/02/2018 đã nộp phạt.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 28/12/2023; bị tạm giữ từ ngày 28/12/2023 đến ngày 06/01/2024 được trả tự do; Bị cáo hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thị xã La Gi. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 20 phút ngày 28/12/2023, tại quán cà phê “TP”, thuộc Khu phố C, phường P, thị xã L, Cơ quan CSĐT Công an thị xã L bắt quả tang Đỗ Văn N tổ chức cho Nguyễn Ngọc C, Phạm Minh Đ1, Trần Nhật H, Ngô Tấn T2, Lê Minh H2, Phạm Minh T6, Phạm Hoài V, Trần Minh Q đánh bạc trái phép được thua bằng tiền.

Vật chứng thu giữ gồm:

*Thu giữ tại sòng đánh bài “Phỏm” gồm:

  • - Tang vật thu giữ trên sòng: 02 bộ bài tây loại 52 lá, trong đó 01 bộ đã qua sử dụng, 01 bộ chưa qua sử dụng.
  • - Thu giữ trên người các đối tượng đánh bạc gồm:
    • + Thu giữ của Ngô Tấn T2 1.720.000 đồng, trong đó thu giữ trên tay 720.000 đồng, thu giữ trong túi quần 1.000.000 đồng.
    • + Thu giữ của Nguyễn Ngọc C 3.000.000 đồng đang cầm trên tay.
    • + Thu giữ của Phạm Minh Đ1 750.000 đồng đang cầm trên tay.
    • + Thu giữ của Trần Nhật H 10.800.000 đồng, trong đó thu giữ trong túi quần 9.500.000 đồng, thu giữ trên tay 1.300.000 đồng.

* Thu giữ tại sòng đánh bài “Binh xập xám”:

  • - Tang vật trên sòng: 03 bộ bài tây, loại 52 lá, trong đó 01 bộ bài đã qua sử dụng, 02 bộ bài chưa qua sử dụng.
  • - Thu giữ trên người các đối tượng đánh bạc:
    • + Thu giữ của Lê Minh H2 5.300.000 đồng, trong đó thu giữ trên tay 200.000 đồng, thu giữ trong ví 5.100.000 đồng.
    • + Thu giữ của Phạm Hoài V 5.200.000 đồng, trong đó thu gữ trên tay 400.000 đồng, thu giữ trong ví 4.800.000 đồng.
    • + Thu giữ của Phạm Minh T6 12.800.000 đồng, trong đó thu giữ trên tay 3.400.000 đồng, thu giữ trong ví 9.400.000 đồng.
    • + Thu giữ trên tay của Trần Minh Q 800.000 đồng, thu giữ trong người của Trần Minh Q 11.100.000 đồng.
    • + Thu giữ trong túi quần của Đỗ Văn N 37.560.000 đồng.

Quá trình điều tra thể hiện:

Đỗ Văn N là chủ quán cà phê “TP” ở Khu phố C, phường P, thị xã L. Do buôn bán ế ẩm nên N đã chuẩn bị sẵn các bộ bài tây 52 lá để cung cấp cho những người đến đánh bạc tại quán “TP” để thu tiền xâu, cụ thể như sau:

Vào khoảng 08 giờ ngày 28/12/2023, Phạm Minh Đ1, Ngô Tấn T2 đến uống cà phê tại tầng trệt của quán “TP”. Tại đây, Đ1, T2 và 02 người đàn ông (không rõ lai lịch) rủ nhau đánh bạc bằng hình thức đánh “Phỏm” được thua bằng tiền thì Đỗ Văn N đồng ý cho chơi tại quán, N đưa bài tây cho những người này để đánh bạc, nếu ai “ù” thì phải đưa cho N tiền xâu là 20.000 đồng. Hình thức chơi đánh bạc là sử dụng bộ bài tây 52 lá chia cho mỗi người 9 lá bài, còn người thắng thì được chia 10 lá; người chia bài đánh trước rồi đến những người tiếp theo bốc “nọc” hoặc ăn lá bài của người đánh trước và đánh ra 01 lá bài, cứ như vậy đến lượt người tiếp theo. Khi người chơi ăn lá bài thứ nhất thì thắng được 20.000 đồng, ăn lá bài thứ hai thì thắng được 40.000 đồng, ăn lá bài thứ ba thì thắng được 60.000 đồng, nếu lá bài thứ ba là cây chốt hạ thì thắng được 100.000 đồng. Kết thúc ván bài, người thấp điểm nhất là người thắng cuộc, người thấp điểm nhì sẽ chung cho người thắng 20.000 đồng, người thấp điểm thứ ba sẽ chung 40.000 đồng và người cao điểm nhất sẽ chung 60.000 đồng. Trong các trường hợp người chơi có cùng số điểm thì người nào hạ bài trước sẽ thắng. Nếu có người “ù” thì ván bài kết thúc và mỗi người chơi sẽ chung cho người “ù” 200.000 đồng, trường hợp “ù tròn” thì mỗi người chơi sẽ chung cho người “ù tròn” 400.000 đồng. Trường hợp người chơi ăn được cả ba lá của người đánh trước và “ù” thì người bị ăn ba lá sẽ phải đền 600.000 đồng tiền “ù” và 160.000 đồng tiền bị ăn ba lá.

Chơi đến khoảng 10 giờ cùng ngày thì hai người đàn ông (không rõ lai lịch) nghỉ, Nguyễn Ngọc C, Trần Nhật H vào thay thế và tiếp tục đánh bạc bằng hình thức đánh “Phỏm” được thua bằng tiền với Phạm Minh Đ1 và Ngô Tấn T2. Đến khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày, lực lượng Cơ quan CSĐT Công an thị xã L phát hiện, bắt quả tang. Quá trình điều tra đã xác định được: Phạm Minh Đ1 mang theo số tiền 800.000 đồng dùng để đánh bạc, trong quá trình chơi đánh bạc Đ1 thua 50.000 đồng, đến khi bị bắt thu giữ được số tiền còn lại Đ1 dùng vào đánh bạc là 750.000 đồng; Ngô Tấn T2 mang theo 1.400.000 đồng dùng để đánh bạc, quá trình chơi T2 thắng được 320.000 đồng, đến khi bị bắt thu giữ được số tiền còn lại T2 dùng vào việc đánh bạc là 1.720.000 đồng; Nguyễn Ngọc C mang theo 1.200.000 đồng dùng để đánh bạc, quá trình chơi C thắng được 1.800.000 đồng, đến khi bị bắt thu giữ được số tiền còn lại C dùng vào việc đánh bạc là 3.000.000 đồng; Trần Nhật H mang theo 1.000.000 đồng dùng vào việc đánh bạc, quá trình chơi H thắng được 300.000 đồng, đến khi bị bắt thu giữ được số tiền còn lại H dùng vào đánh bạc là 1.300.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc của Phạm Minh Đ1, Ngô Tấn T2, Nguyễn Ngọc C, Trần Nhật H là 6.770.000 đồng, Đỗ Văn N đã thu tiền xâu của những người đánh “Phỏm” được 40.000 đồng (Bút lục số: 147-175; 183-192; 218-229; 200-220; 237-245).

Khoảng 10 giờ cùng ngày, Trần Minh Q, Lê Minh H2, Phạm Minh T6 và Phạm Hoài V đến uống cà phê trên tầng 1 của quán “TP”. Tại đây, Q, H2, T6 và V xin chơi đánh bạc thì được Đỗ Văn N đồng ý; N đưa 03 bộ bài tây cho bốn người này để đánh bạc và thu mỗi người 50.000 đồng tiền xâu khi kết thúc việc chơi đánh bạc. Trần Minh Q, Lê Minh H2, Phạm Minh T6 và Phạm Hoài V đánh bạc trái phép với nhau bằng hình thức “Binh xập xám” được thua bằng tiền; cách thức chơi là sử dụng bộ bài tây 52 lá chia cho đều cho 04 người chơi, người chơi sẽ xếp 13 lá bài thành 3 chi, chi đầu 3 lá, hai chi còn lại mỗi chi 5 lá, mỗi người cầm cái chia bài xoay vòng, mỗi ván chỉ có một người thắng cuộc, người chơi còn lại phải chung cho người thắng cuộc 200.000 đồng. Trường hợp có hai hay nhiều người bằng điểm nhau mà trong đó có người làm cái thì người làm cái thắng, còn nếu không có người nào làm cái thì người ngồi gần bên phải người làm cái thắng. Đến khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày, lực lượng Cơ quan CSĐT Công an thị xã L phát hiện, bắt quả tang. Qua điều tra, xác định được Trần Minh Q sử dụng số tiền 1.200.000 đồng để đánh bạc, quá trình chơi Q thắng được 600.000 đồng, khi bị bắt thu được 1.800.000 đồng là số tiền Quân dùng để đánh bạc; Lê Minh H2 sử dụng số tiền 5.500.000 đồng dùng vào việc đánh bạc, quá trình chơi H2 thua 200.000 đồng, khi bị bắt thu được 5.300.000 đồng mà H2 dùng để đánh bạc; Phạm Minh T6 sử dụng số tiền 3.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình chơi Tây thắng được 400.000 đồng, khi bị bắt thu được số tiền 3.400.000 đồng mà T6 để đánh bạc; Phạm Hoài V mang theo 1.200.000 đồng dùng để đánh bạc, quá trình chơi V thua 800.000 đồng, khi bắt giữ thu được 400.000 đồng mà V dùng để đánh bạc. Như vậy, tổng số tiền Trần Minh Q, Lê Minh H2, Phạm Minh T6 và Phạm Hoài V dùng vào việc đánh bạc là 10.900.000 đồng. (Bút lục số: 147-175; 255-264; 273-282; 291-298; 310-314; 326-335).

Vật chứng thu giữ: Cơ quan CSĐT Công an thị xã L trả lại số tiền không liên quan đến việc phạm tội cho Phạm Hoài V 4.800.000 đồng; trả cho Phạm Minh T6 số tiền 9.400.000 đồng; trả cho Trần Minh Q số tiền 1.100.000 đồng; trả cho Trần Nhật H số tiền 9.500.000 đồng; trả cho Đỗ Văn N số tiền 37.520.000 đồng. Còn 05 bộ bài tây và 17.710.000 đồng, hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự thị xã L quản lý.

Tại bản cáo trạng số: 24/CT-VKSLG-HS ngày 05/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố bị cáo Đỗ Văn N về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Phạm Minh Đ1, Ngô Tấn T2, Nguyễn Ngọc C, Trần Nhật H, Trần Minh Q, Lê Minh H2, Phạm Minh T6 và Phạm Hoài V cùng về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như nội dung cáo trạng nêu và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Văn N, phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; Các bị cáo Nguyễn Ngọc C, Ngô Tấn T2, Trần Nhật H, Phạm Minh Đ1, Lê Minh H2, Phạm Hoài V, Phạm Minh T6 và Trần Minh Q, đều phạm tội: “Đánh bạc”.

1. Áp dụng: Điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 322; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Phạt: Bị cáo Đỗ Văn N mức án từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Đỗ Văn N phải nộp từ 20.000.000 đến 30.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.

2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự.

Phạt: Mỗi bị cáo Nguyễn Ngọc C, Ngô Tấn T2, Trần Nhật H, Phạm Minh Đ1, Lê Minh H2, Phạm Hoài V, Phạm Minh T6 và Trần Minh Q từ 30.000.000 đến 40.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.

* Về biện pháp tư pháp:

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • + Tịch thu, tiêu hủy: 05 bộ bài tây 52 lá;
  • + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Số tiền 17.710.000 đồng theo biên lai 0003780 ngày 07/3/2014 của Chi cục hành án dân sự thị xã L.

Hiện đang tạm giữ tại Chi cục hành án dân sự thị xã L, có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/3/2024, giữa Cơ quan CSĐT công an thị xã L với Chi cục thi hành án dân sự thị xã La Gi.

Tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra và thừa nhận cáo trạng của VKSND thị xã La Gi truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện.

- Các bị cáo không có ý kiến cũng như tranh luận gì đối với quan điểm của đại diện VKSND thị xã La Gi.

- Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo đều thấy hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, rất ăn năn hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, để các bị cáo có cơ hội vừa lao động vào chấp hành hình phạt để chăm sóc cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên toà, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố. Xét, lời khai của các bị cáo tại phiên toà là hoàn toàn phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên toà, đủ căn cứ để khẳng định: Đây là vụ án “Tổ chức đánh bạc” do bị cáo Đỗ Văn N; vụ án “Đánh bạc” do các bị cáo Nguyễn Ngọc C, Ngô Tấn T2, Trần Nhật H, Phạm Minh Đ1, Lê Minh H2, Phạm Hoài V, Phạm Minh T6 và Trần Minh Q cố ý thực hiện. Vào khoảng 10 giờ ngày 28/12/2023, Đỗ Văn N cùng một lúc đã tổ chức 02 chiếu bạc cho các đối tượng đánh bạc trái phép được thua bằng tiền tại quán cà phê “TP” ở khu phố C, phường P, thị xã L do Đỗ Văn N quản lý để thu tiền xâu; cụ thể như sau:

  • - Tại tầng trệt của quán cà phê “TP”, Đỗ Văn N đã cung cấp 02 bộ bài tây loại 52 lá cho Phạm Minh Đ1, Ngô Tấn T2, Nguyễn Ngọc C, Trần Nhật H đánh bạc trái phép với nhau bằng hình thức đánh “Phỏm” được thu bằng tiền. Tổng số tiền mà Phạm Minh Đ1, Ngô Tấn T2, Nguyễn Ngọc C, Trần Nhật H sử dụng vào việc đánh bạc là 6.770.000 đồng. Phỏm là hình thức nhiều người tham gia đánh bạc với nhau nên Phạm Minh Đ1, Ngô Tấn T2, Nguyễn Ngọc C, Trần Nhật H phải chịu trách nhiệm chung về số tiền dùng vào đánh bạc là 6.770.000 đồng.
  • - Tại tầng 1 của quán cà phê “TP”, Đỗ Văn N đã cung cấp 03 bộ bài tây loại 52 lá cho Trần Minh Q, Lê Minh H2, Phạm Minh T6 và Phạm Hoài V đánh bạc trái phép với nhau bằng hình thức “Binh xập xám” được thua bằng tiền. Tổng số tiền Trần Minh Q, Lê Minh H2, Phạm Minh T6 và Phạm Hoài V sử dụng vào việc đánh bạc trái phép là 10.900.000 đồng. Binh xập xám là hình thức nhiều người tham gia đánh bạc với nhau nên Trần Minh Q, Lê Minh H2, Phạm Minh T6 và Phạm Hoài V phải chịu trách nhiệm hình sự chung về tồng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 10.900.000 đồng.

Đỗ Văn N có hành vi tổ chức 02 chiếu bạc trong cùng một lúc tại quán cà phê “TP” do mình quản lý với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 17.670.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Đỗ Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại các điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Ngọc C, Ngô Tấn T2, Trần Nhật H, Phạm Minh Đ1, Lê Minh H2, Phạm Hoài V, Phạm Minh T6 và Trần Minh Q đã phạm vào tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp hoàn toàn với hành vi thực tế mà các bị cáo đã gây ra.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hội đồng xét xử nhận thấy, các bị cáo đều là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, để nhận thức rõ việc tổ chức đánh bạc, đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào, được thua bằng tiền mà không được pháp luật cho phép đều bị nghiêm cấm. Chỉ vì mục đích tư lợi, đam mê thắng thua bằng tiền, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nêu trên. Hành vi của các bị cáo bị pháp luật nghiêm cấm, thể hiện sự xem thường pháp luật, xâm phạm đến trật tự công cộng, góp phần làm gia tăng tệ nạn cờ bạc trên địa bàn thị xã. Do đó, cần phải xử lý một cách nghiêm minh trước pháp luật, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về việc làm sai trái của bản thân; Bị cáo Nguyễn Ngọc C, Ngô Tấn T2, Trần Nhật H, Phạm Minh Đ1, Lê Minh H2, Phạm Hoài V, Phạm Minh T6 và Trần Minh Q đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo Đỗ Văn N có nhân thân tốt, chưa có tiền án - tiền sự, là lao động chính trong gia đình, có ông nội là liệt sĩ. Do đó, khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo Nguyễn Ngọc C, Ngô Tấn T2, Trần Nhật H, Phạm Minh Đ1, Lê Minh H2, Phạm Hoài V, Phạm Minh T6 và Trần Minh Q được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Đỗ Văn N được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Đỗ Văn N có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nêu trên, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; Bị cáo có nhân thân tốt; Hơn nữa, trong giai đoạn điều tra bị cáo bị tạm giữ (từ ngày 28/12/2023 đến ngày 06/01/2024) cũng có tính răn đe đối với bị cáo và sau khi được xem xét cho tại ngoại tại địa phương thì không có vi phạm gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy cần khoan hồng về phần hình phạt đối với bị cáo, áp dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát và giáo dục, để bị cáo có điều kiện vừa cải tạo, vừa lao động ổn định cuộc sống, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Đối với các bị cáo còn lại phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và cũng có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nêu trên, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Trong giai đoạn điều tra các bị cáo bị tạm giữ (từ ngày 28/12/2023 đến ngày 06/01/2024) cũng có tính răn đe và sau khi được xem xét cho tại ngoại tại địa phương thì cũng không có vi phạm gì. Các bị cáo có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng và đều có nhân thân tốt, có nghề nghiệp, thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy áp dụng hình phạt tiền cũng đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo, để các bị cáo có điều kiện vừa cải tạo, vừa lao động ổn định cuộc sống.

Trong vụ án này, bị cáo Đỗ Văn N phải chịu trách nhiệm hình sự cao nhất. Các bị cáo Trần Minh Q, Lê Minh H2, Phạm Minh T6 và Phạm Hoài V phải chịu hình phạt cao hơn các bị cáo Phạm Minh Đ1, Ngô Tấn T2, Nguyễn Ngọc C, Trần Nhật H vì số tiền các bị cáo Q, H2, T6, V dùng vào việc đánh bạc cao hơn các bị cáo còn lại.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo N có hành vi “Tổ chức đánh bạc” nhằm mục đích thu lợi. Do đó, cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 322 Bộ luật hình sự. Các bị cáo có hành vi đánh bạc đã xử phạt tiền là hành phạt chính nên không xử phạt bổ sung.

[6] Về xử lý vật chứng: 05 bộ bài tây 52 lá; Xét, đây là công cụ dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 17.710.000 đồng, xét đây là tiền các bị cáo dùng để đánh bạc nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền thu giữ của các đối tượng không liên quan đến tội phạm, quá trình điều tra đã giải quyết xong, nên Hội đồng xét xử không xét.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn N, phạm tội: “Tổ chức đánh bạc”; Các bị cáo Nguyễn Ngọc C, Ngô Tấn T2, Trần Nhật H, Phạm Minh Đ1, Lê Minh H2, Phạm Hoài V, Phạm Minh T6 và Trần Minh Q, đều phạm tội: “Đánh bạc”.

[1.1] Áp dụng: Điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 322; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.

  • - Xử phạt: Đỗ Văn N 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng, được tính từ ngày Toà tuyên án (ngày 19/4/2024).

Giao Đỗ Văn N cho Ủy ban nhân dân phường P, thị xã L, tỉnh Bình Thuận, để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  • - Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Đỗ Văn N phải nộp 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.

[1.2] Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự.

  • - Xử phạt: Nguyễn Ngọc C 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.

[1.3] Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự.

  • - Xử phạt: Ngô Tấn T2 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.

[1.4] Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự.

  • - Xử phạt: Trần Nhật H 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.

[1.5] Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự.

  • - Xử phạt: Phạm Minh Đ1 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.

[1.6] Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự.

  • - Xử phạt: Lê Minh Hải 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng

[1.7] Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự.

  • - Xử phạt: Trần Minh Q 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng.

[1.8] Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự.

  • - Xử phạt: Phạm Minh T6 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng.

[1.9] Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; Điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự.

  • - Xử phạt: Phạm Hoài V 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng.

[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • + Tịch thu, tiêu hủy: 05 bộ bài tây 52 lá;
  • + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Số tiền 17.710.000 đồng theo biên lai 0003780 ngày 07/3/2014 của Chi cục hành án dân sự thị xã L.

Hiện đang tạm giữ tại Chi cục hành án dân sự thị xã L, có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/3/2024, giữa Cơ quan CSĐT công an thị xã L với Chi cục thi hành án dân sự thị xã La Gi.

[3] Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Đỗ Văn N, Nguyễn Ngọc C, Ngô Tấn T2, Trần Nhật H, Phạm Minh Đ1, Lê Minh H2, Phạm Hoài V, Phạm Minh T6 và Trần Minh Q, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung.

(Đã giải thích chế định án treo đối với bị cáo)

* Nơi nhân:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - CA tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND thị xã La Gi;
  • - THADS thị xã La Gi;
  • - Công an thị xã La Gi;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS - Lưu Tòa án;
  • - UBND địa phương nơi BC cư trú.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Công Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HSST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về tổ chức đánh bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 34/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn Nh phạm tội tổ chức Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger