Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÊ LINH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 34/2024/HSST

Ngày 19/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

  • - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

    Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Huy Duệ.

    Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Dương Thị Kim Lan.

    2/ Ông Kiều Xuân Mai.

  • - Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thu Thủy – Thư ký Toà án ND huyện Mê Linh.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh tham gia phiên toà:

    Bà Nguyễn Thị Hương mai - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mê Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/HSST ngày 18 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2024, đối với bị cáo:

  • Họ và tên: Lê Văn Đ, sinh năm 1964; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Văn hoá: 7/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lê Văn R; Con bà Đỗ Thị G; gia đình có 6 anh em, bị cáo là con thứ ba; Vợ là Lê Thị D; Có 04 con, con lớn sinh năm 1985, con nhỏ sinh năm 1995. Theo danh chỉ bản số 528, do Công an huyện M lập ngày 29/12/2023 và trích lục tiền án, tiền sự số 6324630/2024/PV06 ngày 22/01/2024 của Phòng hồ sơ Công an thành phố H thì bị cáo: Không có tiền sự, không có tiền án. Tạm giữ; tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.

  • - Người bị hại: Ông Đỗ Văn T, sinh năm 1963 (Chết ngày 27/10/2023). Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội.

  • - Người đại diện hợp pháp của người bị hại:

    1. Bà Lê Thị N, sinh năm 1940 (Mẹ đẻ người bị hại).

    2. Chị Đỗ Thị Thanh N1, sinh năm 1984 (Con người bị hại).

      Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội.

    3. Chị Đỗ Thị N2, sinh năm 1986 (Con người bị hại).

      Địa chỉ: TDP X, phường P, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc.

    4. Anh Đỗ Văn T1, sinh năm 1989 (Con người bị hại).

      HKTT: thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội.

      Hiện đang thi hành án tại Trại giam S, N, T, Nghệ An.

  • - Người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp:

    Ông Đỗ Văn T2, sinh năm 1977 (Em người bị hại).

    HKTT: thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội.

1

Vắng mặt tại phiên toà (Có đon xin xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo cáo trạng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 26/10/2023, Lê Văn Đ, sinh năm 1964; trú tại thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; có nhu cầu xây lại bờ tường tại thửa ruộng ở cánh đồng R, thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội nên đã gọi điện thoại cho ông Đỗ Văn T3, sinh năm 1975; trú tại thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội để mua 03m³ cát xây. Khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, anh Đỗ Minh T4, sinh năm 2000; trú tại thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội là con ông T3 chở cát theo yêu cầu của Đ. Tại đây, Đ chỉ vị trí và yêu cầu anh T4 đổ cát trên lòng đường và dải đất dọc đường liên thôn N - T. Anh T4 đã điều khiển xe ô tô BKS 29C-327.29 đổ cát xuống vị trí Đồng đã chỉ, đống cát lúc này chiếm khoảng 1,5 mét trên lòng đường bên phải theo hướng thôn N đi thôn T, xã T. Sau khi đổ cát xong, anh T4 nói với Đ: “Cháu đổ cát xong rồi đấy, bác dọn cát trên đường vào đi cho gọn”. Đồng kiểm tra thấy trên xe ô tô đã đổ hết cát và anh T4 đã đổ cát đúng với vị trí nên Đ nhận đống cát và nói với anh T4: “Hết cát rồi đấy đi về đi, bác lấy cát làm luôn bây giờ”. Sau đó, Đ sử dụng một phần cát nằm trên lòng đường để trộn với xi măng đổ cột trụ bờ tường. Đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, Đ nghỉ làm để đi về, đống cát này vẫn còn chiếm khoảng 1,3m lòng đường. Trước khi về, Đ không thu gom, không đặt biển hay vật gì để cảnh báo cho người và phương tiện tham gia giao thông biết phía trước có chướng ngại vật. Vì vậy, khi các phương tiện giao thông đi qua làm lún cát lấn thêm ra lòng đường tạo ra phần thoải của đống cát. Khoảng 20 giờ 35 phút cùng ngày, ông Đỗ Văn T, sinh năm 1963; trú tại thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội; điều khiển xe mô tô BKS 33K5 - 4118 đi trên đường N - T theo hướng đi thôn T. Khi đi đến vị trí đống cát do không có vật cảnh báo nên xe mô tô đâm vào đống cát nằm trên lòng đường làm xe mô tô bị mất lái đổ xuống đường trượt về phía trước và nằm trên phần đường bên trái theo chiều đi. Ông T bị ngã văng xuống đường bị thương tích. Lúc này, anh Trịnh Đức M, sinh năm 1975; trú tại tổ B, phường H, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc đi xe máy ngang qua đã gọi người nhà ông T đến để đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ1, tỉnh Vĩnh Phúc rồi chuyển đến Bệnh viện H. Tuy nhiên do thương tích nặng nên gia đình đã đưa về nhà đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 27/10/2023 ông T tử vong.

Sau khi vụ việc xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện M đã tiến hành khám nghiệm hiện trường; khám nghiệm tử thi và giám định dấu vết phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông theo quy định.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường của đoạn đường nơi xảy ra tai nạn được xác định tại đường liên thôn từ thôn N đi thôn T, xã T thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Đường hai chiều không có dải phân cách cố định, vạch sơn chia hai chiều đường xe chạy. Mặt đường đổ bê tông có bề rộng 4,1m. Điểm mốc được xác định là cột điện số “2 Lộ 472E25.1” nằm ngoài mép đường bên phải theo hướng đi từ thôn N đi thôn T. Mép đường chuẩn là mép đường bên phải theo hướng đi từ thôn N đi thôn T.

Tại hai đầu đường khu vực hiện trường, trước và sau đống cát không có biển cảnh báo, dây căng cảnh báo chướng ngại vật.

2

Từ cột điện số “2 Lộ 472E25.1” (Cột mốc) chiếu vuông góc lòng đường xuôi về hướng đi thôn T 21,64m là chân đống cát (gần nhất), đống cát có kích thước (4,25x3,5)m, cao 0,92m. Trong đó, phần tràn lên mặt đường bên phải theo hướng đi từ thôn N đi thôn T rộng 3,1m (tính từ mép đường chuẩn sang làn bên trái); Phần cát cao nhất nằm trên mặt đường rộng 1,2m, nối tiếp phần cát thoải cao 0,25m trên mặt đường là 1,9m. Tại mép trái đống cát tràn trên mặt đường (phần thoải đống cát) theo hướng nhìn từ thôn N đi thôn T có nhiều vết in hằn lốp xe bản rộng dạng lốp ô tô. Trên phần thoải đống cát tại vị trí cách mép đường chuẩn 1,25m phát hiện vết hằn lõm cát nằm dọc đường, phần đầu vết hằn hướng đi thôn N, vết hằn có bề rộng 9cm, dùng đèn chiếu xiên in hằn vân dạng tổ ong, kích thước ô không đồng đều, trong đó có ô đo được kích thước (1,7x1)cm. Vết hằn dài 3,6cm, cuối vết hằn cách mép đường chuẩn 1,5m, giáp đống cát này về hướng thôn T có 01 đống cát (dạng cát san nền), kích thước (2,6x2,2)cm cao 0,7m. Trong đó, phần cát nhô ra nằm trên mặt đường bên phải 01m.

Từ cột mốc chiếu vuông góc lòng đường xuôi về hướng đi xã T 33m là đầu dấu vết cà sát. Vết cà sát gồm 3 vết cà sát tương đối song song, ngắt quãng. Đầu vết cà sát cách mép đường chuẩn 1,53cm, vết cà sát có bề rộng mỗi vết xấp sỉ 0,3cm, khoảng cách rộng nhất giữa hai vết cà sát là 1,04m, vết cà sát dài 11,27m, cuối vết cà sát cách mép đường chuẩn 3,87m.

Từ đầu dấu vết cà sát xuôi về hướng đi thôn T 13,51cm là tâm chất màu đỏ, dạng vũng, kích thước (0,65x0,6)m, tâm chất màu đỏ cách mép đường chuẩn 3,1m. Từ vị trí chất màu đỏ ngược về hướng đi thôn N tương ứng vị trí số 3 trên mặt đường bám dính chất màu đỏ tương đối thẳng, in hình vân lốp rộng 13cm.

* Kết quả khám nghiệm tử thi ông Đỗ Văn T: Tại bản Kết luận giám định tử thi số 1433/1392/KLGĐTT-TTPY ngày 21/11/2023 của Trung tâm Pháp y - Sở Y xác định:

1. Các kết quả chính: * Kết quả khám nghiệm:

- Các vết sây sát, bầm tím da do va chạm với vật tày với lực va chạm rất mạnh gây nên: Bầm tím, nề da vùng trán phải; Rách da trán phải; Sây sát da gò má phải; Sây sát da góc hàm phải; Thủng da mặt trước khuỷu tay phải; Bầm tím, sây sát mặt trước cổ tay, ô mô cái và ngón I tay phải; Sây sát da mặt trước 1/3 trên cánh tay phải; Bầm tím da mặt trước ngoài 1/3 giữa cánh tay phải; Bầm tím da mặt trước ngoài 1/2 trên cánh tay trái; Sây sát da khuỷu tay trái; Sây sát da mặt sau cổ tay trái; Sây sát da gốc đốt bàn ngón II tay trái; Sây sát da gối phải; Sây sát da mắt cá trong chân phải; Sây sát da mu bàn chân phải; Sây sát da mắt cá ngoài chân phải; Sờ nắn thấy biến dạng cổ chân; Sây sát da mặt ngoài đầu trên cẳng chân trái; Sây sát da vai trái; Sây sát da thắt lưng phải; Dập não vùng trán hai bên và vùng thùy đỉnh trái; Chảy máu màng mềm bán cầu đại não hai bên; Vỡ xương nền sọ vùng chẩm phải lan vào lỗ chẩm lớn.

- Kết luận Giám định Mô bệnh học: Dập não, dập cầu não.

* Kết quả xét nghiệm, giám định khác: Mẫu máu của nạn nhân Đỗ Văn T giám định: Có Ethanol, nồng độ 142mg Ethanol trong 100ml máu. Mẫu máu của nạn nhân Đỗ Văn T giám định: Không tìm thấy các chất ma túy Morphine, C, C1, A, Methamphetamine, Ketamine, MDA, MDMA, MDEA.

2. Kết luận: Kết luận nguyên nhân chết: Nạn nhân Đỗ Văn T, sinh năm: 1963 tử vong do chấn thương sọ não nặng (dập não, dập cầu não, vỡ xương nền sọ).

3

* Kết quả khám nghiệm phương tiện gây tai nạn: Khám nghiệm xe mô tô biển kiểm soát: 33K5 - 4118:

  • + Khám nghiệm phía trước xe: Ốp nhựa đèn xi nhan phía trước hai bên bị bung rời khỏi các chốt định vị. Đèn sương mù phía trước hai bên bị bung rời. Giá đỡ giỏ để hàng vị trí phía trước bên phải có vết mài sát không rõ chiều hướng đã hoen gỉ, đồng thời làm giá đỡ cong đẩy chiều hướng từ trên xuống dưới từ trái qua phải.

  • + Khám nghiệm phía sau xe: Không phát hiện dấu vết liên quan.

  • + Khám nghiệm bên phải xe: Mặt trên đầu tay phanh bên phải có vết mài sát, kích thước (1x0,9)cm chiều hướng từ sau về trước. Mặt trên đầu tay cầm người lái bên phải (Tay ga) có vết mài cao su, kích thước (3x3,3)cm, chiều hướng từ sau về trước. Đầu cao su để chân người lái bên phải có vết bung cao su, kích thước (3x2)cm, đồng thời làm để chân người lái bên phải, cong đẩy chiều hướng từ trên xuống dưới. Ốp nhựa bụng xe bên phải bị gãy bung rời, trên diện (29x17)cm. Giá để hàng người ngồi sau bên phải có vết mài sát chiều hướng từ trên xuống dưới gồm 02 vết, kích thước mỗi vết (2,2x2)cm và (3x1,6)cm.

  • + Khám nghiệm bên trái xe: Không phát hiện dấu vết liên quan.

Theo Kết luận giám định số 8694/KL-KTHS ngày 18/12/2023 của V - Bộ C2 kết luận:

  1. Đặc điểm dấu vết dạng vân lốp xe môtô tại phần thoải của đống cát trong bản ảnh hiện trường (ảnh 8 trong bản ảnh giám định) khác đặc điểm vân lốp bánh trước xe môtô biển số 33K5-4118 (ảnh 5 trong bản ảnh giám định).

  2. Đặc điểm dấu vết dạng vân lốp xe môtô tại phần thoải của đống cát trong bản ảnh hiện trường (ảnh 8 trong bản ảnh giám định) giống điểm vân lốp bánh sau xe môtô biển số 33K5-4118 (ảnh 6 trong bản ảnh giám định).

*Kết quả định giá tài sản: Tại Kết luận định giá tài sản số 110/KL-HĐĐGTS ngày 06/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M kết luận: Giá trị tài sản bị thiệt hại phần hư hỏng của chiếc xe mô tô, biển kiểm soát: 33K5 - 4118 là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).

* Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng và đồ vật, tài sản liên quan gồm: 01 xe mô tô, nhãn hiệu DEAM II, BKS 33K5 – 4118, quá trình điều tra xác định: Chiếc xe trên là tài sản của ông T. Tra cứu vật chứng theo biển kiểm soát, số khung, số máy không có trong cơ sở dữ liệu xe vật chứng nên Cơ quan điều tra Công an huyện M đã trao trả chiếc xe mô tô trên cho người đại diện hợp pháp cho ông Đỗ Văn T để quản lý, sử dụng.

Đối với ông Đỗ Văn T3 và anh Đỗ Minh T4, quá trình điều tra xác định: Ông T3 là người bán cát, anh T4 là người chở cát đã bàn giao theo yêu cầu nên không có lỗi; vì vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

* Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo Lê Văn Đ đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại số tiền 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng). Đại diện của người bị hại không có yêu cầu bồi thường gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Đ.

Kết quả điều tra xác định nguyên nhân tai nạn: Nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông xác định do lỗi của bị cáo Lê Văn Đ có hành vi để trái phép vật liệu là đống cát trên lòng đường giao thông đã vi phạm khoản 2, Điều 8 Luật Giao thông đường bộ.

4

Tại bản cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 15/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh đã truy tố Lê Văn Đ về tội: “Cản trở giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 261 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như nội dung bản cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 15/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Lê Văn Đồng phạm t “Cản trở giao thông đường bộ”.

  • - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 261; Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Lê Văn Đ từ 8 đến 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 16 đến 20 tháng.

  • - Phần dân sự không ai yêu cầu gì thêm, nên không xem xét giải quyết.

  • - Bị cáo phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các quyết định, hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên toà, bị cáo Lê Văn Đ khai nhận có hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường; Biên bản khám dấu vết phương tiện giao thông liên quan; Bản kết luận giám định pháp y tử thi; Kết luận giám định của V về đặc điểm dấu vết dạng vân lốp xe môtô; Lời khai của người làm chứng; Phù hợp với ý kiến phát biểu, lời luận tội của Viện kiểm sát và phù hợp với nội dung vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Ngày 26/10/2023, Lê Văn Đ có nhu cầu xây lại bờ tường tại thửa ruộng ở cánh đồng R, thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội nên đã gọi điện thoại cho ông Đỗ Văn T3 để mua 03m³ cát xây. Khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, anh Đỗ Minh T4 là con ông T3 chở cát theo yêu cầu của Đ; Đ chỉ vị trí và yêu cầu anh T4 đổ cát trên lòng đường. Anh T4 đã điều khiển xe ô tô đổ cát xuống vị trí Đ đã chỉ. Sau khi đổ cát xong, anh T4 nói với Đ: “Cháu đổ cát xong rồi đấy, bác dọn cát trên đường vào đi cho gọn”. Đồng kiểm tra thấy trên xe ô tô đã đổ hết cát và anh T4 đã đổ cát đúng với vị trí nên Đ nhận đống cát và nói với anh T4: “Hết cát rồi đấy đi về đi, bác lấy cát làm luôn bây giờ”. Sau đó, Đ sử dụng một phần cát nằm trên lòng đường để trộn với xi măng đổ cột trụ bờ tường. Đến khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, Đ nghỉ làm đi về, đống cát vẫn còn chiếm lòng đường. Trước khi về, Đ không thu gom, không đặt biển hay vật gì để cảnh báo cho người và phương tiện tham gia giao thông biết phía trước có chướng ngại vật. Vì vậy, khi các phương tiện giao thông đi qua làm lún cát lấn thêm ra lòng đường tạo ra phần thoải của đống cát. Khoảng 20 giờ 35 phút cùng ngày, ông Đỗ Văn T, điều khiển xe mô tô BKS 33K5 - 4118 khi đi đến vị trí đống cát do không có vật cảnh báo nên xe

5

mô tô đâm vào đống cát nằm trên lòng đường làm xe mô tô bị mất lái đổ xuống đường, ông T bị ngã văng xuống đường bị thương tích. Lúc này, anh Trịnh Đức M đi xe máy ngang qua đã gọi người nhà ông T đến đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ1, tỉnh Vĩnh Phúc, sau đó chuyển đến Bệnh viện H. Tuy nhiên do thương tích nặng nên gia đình đã đưa về nhà đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 27/10/2023 ông T tử vong. Tại bản Kết luận giám định tử thi số 1433/1392/KLGĐTT-TTPY ngày 21/11/2023 của Trung tâm Pháp y - Sở Y xác định: 1. Các kết quả chính: * Kết quả khám nghiệm:

- Các vết sây sát, bầm tím da do va chạm với vật tày với lực va chạm rất mạnh gây nên: Bầm tím, nề da vùng trán phải; Rách da trán phải; Sây sát da gò má phải; Sây sát da góc hàm phải; Thủng da mặt trước khuỷu tay phải; Bầm tím, sây sát mặt trước cổ tay, ô mô cái và ngón I tay phải; Sây sát da mặt trước 1/3 trên cánh tay phải; Bầm tím da mặt trước ngoài 1/3 giữa cánh tay phải; Bầm tím da mặt trước ngoài 1/2 trên cánh tay trái; Sây sát da khuỷu tay trái; Sây sát da mặt sau cổ tay trái; Sây sát da gốc đốt bàn ngón II tay trái; Sây sát da gối phải; Sây sát da mắt cá trong chân phải; Sây sát da mu bàn chân phải; Sây sát da mắt cá ngoài chân phải; Sờ nắn thấy biến dạng cổ chân; Sây sát da mặt ngoài đầu trên cẳng chân trái; Sây sát da vai trái; Sây sát da thắt lưng phải; Dập não vùng trán hai bên và vùng thùy đỉnh trái; Chảy máu màng mềm bán cầu đại não hai bên; Vỡ xương nền sọ vùng chẩm phải lan vào lỗ chẩm lớn.

- Kết luận Giám định Mô bệnh học: Dập não, dập cầu não.

* Kết quả xét nghiệm, giám định khác: Mẫu máu của nạn nhân Đỗ Văn T giám định: Có Ethanol, nồng độ 142mg Ethanol trong 100ml máu. Mẫu máu của nạn nhân Đỗ Văn T giám định: Không tìm thấy các chất ma túy Morphine, C, C1, A, Methamphetamine, Ketamine, MDA, MDMA, MDEA.

2. Kết luận: Kết luận nguyên nhân chết: Nạn nhân Đỗ Văn T, sinh năm: 1963 tử vong do chấn thương sọ não nặng (dập não, dập cầu não, vỡ xương nền sọ).

Hành vi của Lê Văn Đ đã phạm tội “Cản trở giao thông đường bộ”. Tội danh và hình phạt được qui định tại điểm a khoản 1 Điều 261 Bộ luật Hình sự. Điều khoản này quy định: “1. Người nào đào, khoan, xẻ, san lấp trái phép các công trình giao thông đường bộ; đặt, để trái phép vật liệu, phế thải, rác thải, đổ chất gây trơn, vật sắc nhọn hoặc các chướng ngại vật khác gây cản trở giao thông đường bộ; tháo dỡ, di chuyển trái phép, làm sai lệch, che khuất hoặc phá hủy biển báo hiệu, đèn tín hiệu, cọc tiêu, gương cầu, dải phân cách hoặc các thiết bị an toàn giao thông đường bộ khác; mở đường giao cắt trái phép qua đường bộ, đường có dải phân cách; sử dụng trái phép lề đường, hè phố, phần đường xe chạy; sử dụng trái phép hành lang an toàn đường bộ hoặc vi phạm quy định về bảo đảm an toàn giao thông khi thi công trên đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Làm chết người”.

[3] Hành vi để trái phép vật liệu là đống cát trên lòng đường giao thông không đúng Luật giao thông đường bộ, chiếm một phần đường xe chạy gây cản trở giao thông đường bộ dẫn đến gây tai nạn giao thông của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì đã xâm phạm đến trật tự công cộng và tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi để để trái phép vật liệu là đống cát trên phần đường xe chạy và sử dụng lòng đường không đúng Luật giao thông đường bộ, chiếm một phần đường xe chạy gây cản trở giao thông đường bộ dẫn đến gây tai nạn giao thông

6

là vi phạm pháp luật; Người bị hại không có bằng lái xe mô tô theo qui định và trong máu có Ethanol, nồng độ 142mg Ethanol trong 100ml máu dẫn đến vụ tai nạn xảy ra là có lỗi hỗn hợp. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo với mức án theo qui định của pháp luật.

[4] Về nhân thân và tiền án, tiền sự: Bị cáo không có tiền án; không có tiền sự.

[5] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Có tình tiết giảm nhẹ là: Sau tai nạn, bị cáo đã khắc phục toàn bộ phần thiệt hại cho người bị hại với tổng số tiền 60.000.000 đồng; Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đại diện người bị hại có đơn, lời khai đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn, giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo; người bị hại khi tham gia giao thông có Ethanol, nồng độ 142mg Ethanol trong 100ml máu; kết quả tra cứu dữ liệu quốc gia xác định không có các thông tin về giấy phép lái xe mang tên nạn nhân Đỗ Văn T; bị cáo có địa chỉ rõ ràng; bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giúp đỡ của gia đình và chính quyền địa phương cũng có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội và cũng thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.

[6] Về phần dân sự: Đại diện của người bị hại vắng mặt tại phiên tòa, có lời khai không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự. Vì vậy, Tòa án không xem xét, giải quyết về phần dân sự.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.

Vì những lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Đồng phạm t: “Cản trở giao thông đường bộ”.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 261; Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Lê Văn Đ 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 12 (Mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Lê Văn Đ cho UBND xã T, huyện M, thành phố Hà Nội nơi bị cáo thường trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách bản án.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

* Về phần dân sự: Người đại diện hợp pháp của người bị hại không có yêu cầu gì, nên không xem xét, giải quyết.

- Căn cứ khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1, 3 Điều 21; Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

7

thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Mục 1 phần I; Tiểu mục 1.3 mục 1 phần II của danh mục án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng, tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước.

- Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt án vắng mặt.

Nơi nhận:

  • - VKS Mê Linh.
  • - Công an Mê Linh.
  • - Thi hành án Mê Linh
  • - Tòa án Hà Nội.
  • - Bị cáo.
  • - Người tham gia tố tụng (vắng mặt).
  • - Lưu hồ sơ
  • - Lưu.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lê Huy Duệ

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HSST ngày 19/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự - cản trở giao thông đường bộ

  • Số bản án: 34/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cản trở giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phát: Lê Văn Đ - 6 tháng tù cho hưởng án treo.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger