|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2024/HS-ST
Ngày: 18 - 9 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Hiền.
Bà Trần Thị Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Quang Lương Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 33/2024/HSST ngày 15 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Lê Văn S. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 16 tháng 7 năm 1980 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản D, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn M và bà Nguyễn Thị T; Vợ Vi Thị D, con có 02 con lớn nhất sinh năm 2006 nhỏ nhất sinh năm 2014.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 27/2015/HSST ngày 07/8/2015 Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xử phạt 5.500.000 đồng về tội Đánh bạc.
Bị cáo tạm giữ từ ngày 06/6/2024 đến ngày 12/6/2024 thì áp dụng biện pháp “cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt.
-
Họ và tên: Nguyễn Văn S1. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 20 tháng 9 năm 1982 tại thị xã T, tỉnh Nghệ An; Nơi thường trú: Khối P, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Trương Thị T1; Vợ Nguyễn Thị A, con có 02 con lớn nhất sinh năm 2008 nhỏ nhất sinh năm 2014.
Tiền án; Tiền sự: Không.
Nhân thân:
Năm 2003 Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Năm 2015 Tòa án nhân thị xã T, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”.
Năm 2018 Công an thị xã T, tỉnh Nghệ An xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc.
Bị cáo tạm giữ từ ngày 06/6/2024 đến ngày 12/6/2024 thì áp dụng biện pháp “cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt.
-
Họ và tên: Trần Nguyên C1. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 03 tháng 6 năm 1986 tại huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi thường trú: K, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nơi tạm trú: Bản Diềm, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn D1 và bà Phạm Thị H; Vợ Đinh Thị Hồng H1, con có 02 con lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2015.
Tiền án; Tiền sự: Không.
Bị cáo tạm giữ từ ngày 06/6/2024 đến ngày 12/6/2024 thì áp dụng biện pháp “cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt.
-
Họ và tên: Nguyễn Văn H2. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 01 tháng 6 năm 1993 tại thị xã T, tỉnh Nghệ An; Nơi thường trú: Khối P, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An; Nơi tạm trú: Bản Diềm, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Thổ; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Minh T2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ; Vợ con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tạm giữ từ ngày 06/6/2024 đến ngày 12/6/2024 thì áp dụng biện pháp “cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt.
-
Họ và tên: Lô Văn L. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 06 tháng 01 năm 1994 tại huyện C, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản D, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lô Văn Đ1 và bà Vy Thị T3; Vợ Vy Thị T4, con có 03 con lớn nhất sinh năm 2017 nhỏ nhất sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tạm giữ từ ngày 06/6/2024 đến ngày 12/6/2024 thì áp dụng biện pháp “cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt.
-
Họ và tên: Bùi Nguyên N. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 07 tháng 07 năm 1985 tại huyện A, tỉnh Nghệ An; Nơi thường trú: Thôn A, xã Hội Sơn, huyện A, tỉnh Nghệ An; Nơi tạm trú: Bản Diềm, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Nguyên H3 và bà Nguyễn Thị L1 (đã chết); Vợ Vi Thị H4, con có 02 con lớn nhất sinh năm 2006 nhỏ nhất sinh năm 2016.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tạm giữ từ ngày 06/6/2024 đến ngày 12/6/2024 thì áp dụng biện pháp “cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt.
Người làm chứng: Anh Vi Văn K, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Bản Diềm, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 05/6/2024, Lê Văn S, Lô Văn L, Trần Nguyên C1, Nguyễn Văn H2, Nguyễn Văn S1 và Bùi Nguyên N cùng ngồi uống rượu tại nhà với anh Vi Văn K, sinh năm 1991 ở bản D, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An. Sau khi uống rượu đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì Vi Văn K vào phòng đi ngủ trước, còn Lê Văn S, Trần Nguyên C1, Nguyễn Văn H2, Lô Văn L, Bùi Nguyên N và Nguyễn Văn S1 tiếp tục ngồi uống rượu. Trong quá trình ngồi uống rượu thì Lê Văn S nói “Làm tí hầy” (ý rủ mọi người đánh bạc bằng hình thức ăn tiền) thì C1, H2, L, N và S1 đều đồng ý. Sau đó cả 06 người gồm S, C1, H2, L, N và S1 thống nhất đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” và đồng ý mức “cược” tẩy là 20.000 đ (Hai mươi nghìn đồng), tố (cược thêm) tối đa 100.000 đ (một trăm nghìn đồng). Sau khi đã thống nhất về hình thức đánh bạc và mức đánh thì S, C1, H2, L, N và S1 lấy 01 chiếc chiếu cói màu nâu và 01 bộ bài T5 – Lơ – khơ màu xanh bị thiếu, có 41 quân bài có sẵn ở gian bếp nhà K và ngồi đánh bài.
Hình thức đánh bạc như sau: Trước khi chia bài cả 06 người đánh mỗi người đặt xuống chiếu bạc trước vị trí mình ngồi với số tiền cược 20.000 đồng/ván (gọi là tẩy). Sau đó, cho 01 người trong số người tham gia đánh bạc đó cầm bộ bài T5 – lơ – khơ chia cho mỗi người 03 quân bài, người chơi sẽ lên 03 quân bài đó rồi theo thứ tự chiều kim đồng hồ, người chơi sẽ đưa ra các quyết định trong ván bài đó, người nào cảm thấy bài mình “thua” thì úp bài xuống (tức là không tham gia đánh ván bài đó và chịu mất toàn bộ số tiền đặt tẩy là 20.000 đồng), “theo” (tức là cược bằng số tiền người chơi cửa trên đã đặt), “tố” (Đặt số tiền cược lớn hơn so với người ở cửa trên đã đặt, mức tố từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng cho mỗi lần tố). Nếu trong ván bài đó người chơi “tố” mà không có ai theo cược thì người tố đó sẽ thắng ván bài đó và sẽ được toàn bộ số tiền đặt cược cho ván bài đó mà không cần so bài với ai. Nếu trong ván bài đó, người chơi không có ai “tố” thêm nữa và đưa ra các mức cược bằng nhau thì sẽ so sánh bài với nhau để tính kết quả thắng, thua của ván bài đó, cách tính từ cao đến thấm là “Sáp”, “Liêng”, “Ảnh”, “Số điểm” (S2 là 03 quân bài bằng nhau, (như 03 con Át hoặc 03 con 9), lớn nhất là sáp Át, sau đó thứ tự lớn dần từ 2 đến K; liêng là 03 quân bài có số thứ tự liên tiếp nhau(như 1,2,3 hoặc 7,8,9), cao nhất là Q, K, A, bé nhất là A, 2, 3; Ảnh là 03 quân bài của người chơi đều có hình ông người mà không tạo thành sáp và không tạo thành liêng; số điểm được tính là hàng đơn vị của tổng 03 quân bài, trong đó các quân bài 10, J, Q, K được tính bằng 0, quân A được tính bằng 1, tổng điểm của 03 quân bài được tính từ cao xuống thấp là từ 9, 8, 7, 6, 5, 4, 3, 2, 1, 0). Nếu trong ván bài có nhiều người theo có số điểm bằng nhau thì số điểm cược trong ván bài đó sẽ được chia đều cho những người theo cuối cùng của ván bài đó. Sau đó sẽ chọn ra người chia bài tiếp theo. Các đối tượng đánh bạc đến 23 giờ 20 phút ngày 05/6/2024 thì bị lực lượng Công an huyện C, tỉnh Nghệ An phối hợp với Công an xã C phát biện bắt quả tang thu giữ tại chiếu bạc số tiền 5.840.000 đồng; 01 bộ bài Túlơkhơ có 41 quân bài màu xanh và 01 chiếc chiếu cói màu nâu. Trong quá trình bắt giữ thì Nguyễn Văn S1 bỏ chạy đến ngày 06/6/2024 thì đến Cơ quan Công an huyện C đầu thú. Quá trình điều tra đã xác định được số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc trái phép cụ thể như sau:
- Nguyễn Văn S1 sử dụng số tiền 1.670.000 đồng;
- Lê Văn S sử dụng số tiền 1.200.000 đồng;
- Trần Nguyên C1 sử dụng số tiền 950.000 đồng;
- Bùi Nguyên N sử dụng số tiền 760.000 đồng;
- Nguyễn Văn H2 sử dụng số tiền 700.000 đồng;
- Lô Văn L sử dụng số tiền 560.000 đồng.
Tại kết luận số 05 của Ngân hàng N2 – Chi nhánh huyện C - Tây N kết luận kiểm tra xác định tiền thật, tiền giả đối với số tiền 5.840.000 đ (Năm triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng) của Công an huyện C thu giữ ngày 05/6/2024 đều là tiền thật do Ngân hàng N3 phát hành.
Cáo trạng số 34/CT-VKS-CC ngày 14/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông đã truy tố Lê Văn S, Nguyễn Văn S1, Trần Nguyên C1, Nguyễn Văn H2, Lô Văn L, Bùi Nguyễn N1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Đề nghị tuyên bố bị cáo Lê Văn S, Nguyễn Văn S1, Trần Nguyên C1, Nguyễn Văn H2, Lô Văn L, Bùi Nguyễn N1 phạm tội “Đánh bạc”.
Về hình phạt: Đề nghị Hội đông xét xử áp dụng đối với các bị cáo như sau:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt xử phạt bị cáo Lê Văn S 15 (Mười lăm) tháng đến 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ được trừ đi số ngày bị cáo đã bị tạm giữ 06/6/2024 đến ngày 12/6/2024. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S1 15 (Mười lăm) tháng đến 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ được trừ đi số ngày bị cáo đã bị tạm giữ 06/6/2024 đến ngày 12/6/2024. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt xử phạt các bị cáo Trần Nguyên C1, Nguyễn Văn H2, Lô Văn L và Bùi Nguyên N số tiền từ 20.000.000 đ (Hai mươi triệu) đến 25.000.000 đ (hai mươi lăm) triệu đồng.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu và nộp ngân sách Nhà nước số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc 5.840.000đ (Năm triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng); Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) bộ bài tú lơ khơ màu xanh 41 quân bài; 01 chiếc chiếu cói màu nâu, đã qua sử dụng.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng cũng như luận tội của đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo nhận tội và không có tranh luận.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- Về hành vi phạm của các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 23 giờ 20 phút, ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại nhà của anh Vi Văn K ở Bản D, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An, Lê Văn S, Nguyễn Văn S1, Trần Nguyên C1, Nguyễn Văn H2, Lô Văn L, Bùi Nguyễn N1 đã có hành vi đánh bạc trái pháp luật được thua bằng tiền bằng hình thức “Đánh liêng” với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 5.840.000 (Năm triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng). Hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
-
Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, vụ án có nhiều bị cáo tham gia đánh bạc, bị cáo Lê Văn S là người khởi xướng và các bị cáo khác đều đồng ý tham gia đánh bạc nhưng không phân hóa vai trò, không có sự phân công vị trí của từng người nên không xác định các bị cáo phạm tội có tổ chức mà chỉ là đồng phạm giản đơn. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương và dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, các bị cáo có đủ nhận thức và biết rõ việc pháp luật cấm đánh bạc dưới mọi hình thức. Các bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được đánh bạc là tệ nạn xã hội nhưng chỉ vì hám lợi nên coi thường phát luật để thực hiện hành vi, vì vậy cần phải xử lý nghiêm để có tác dụng giáo dục, phòng ngừa và răn đe tội phạm chung.
Bị cáo Lê Văn S là người khởi xướng để các bị cáo khác đánh bạc, đồng thời bị cáo có nhân thân xấu năm 2015 bị cáo từng bị xử phạt về hành vi đánh bạc. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh hành vi của bị cáo mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung, đồng thời tuyên truyền trong quần chúng nhân dân nhận thức pháp luật cao hơn. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội lần này không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có tiền án, tiền sự, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là chỉ là người gợi ý về việc đánh bạc và các bị cáo khác đều đồng tình, không có sự tổ chức và khởi xướng chính, chỉ mang tính chất giản đơn và số tiền tham gia đánh bạc và thu giữ ít, bị cáo có bố đẻ ông Lê Văn M được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, vì vậy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Nguyễn Văn S1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhân thân xấu nhưng đã được xóa án tích, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, có bố đẻ là ông Nguyễn Văn C được tặng thưởng nhiều huân huy chương trong cuộc kháng chiến, số tiền tham gia đánh bạc không lớn, vì vậy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo Lê Văn S và Nguyễn Văn S1 là lao động chính trong gia đình đang phải chăm sóc vợ con, việc cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội là không cần thiết mà chỉ cần giao các bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục trong quá trình chấp hành án thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội, qua xác minh các bị cáo là lao động tự do thu nhập không ổn định, không có tài sản gì lớn nên miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.
Các bị cáo Trần Nguyên C1, Nguyễn Văn H2, Lô Văn L, Bùi Nguyên N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, số tiền bị cáo tham gia đánh bạc không lớn, các bị cáo lần đầu phạm tội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, do đó cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xét thấy việc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội là chưa cần thiết mà chỉ cần áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ để răn đe, giáo dục các bị cáo sữa chữa lỗi lầm đồng thời thể hiện tính khoan hồng nhưng vẫn đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
- Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Lê Văn S, Nguyễn Văn S1, Trần Nguyên C1, Nguyễn Văn H2, Lô Văn L, Bùi Nguyên N đều là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Số tiền 5.840.000 đ (Năm triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng) là vật chứng của vụ án cần tịch thu để nộp ngân sách Nhà nước. Đối với 01 (một) bộ bài tú lơ khơ màu xanh 41 quân bài; 01 chiếc chiếu cói màu nâu đã qua sử dụng là vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu và tiêu hủy.
- Đối với anh Vi Văn K sinh năm 1991, trú tại bản Diềm, xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An không biết về việc các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc nên không xem xét là đồng phạm trong vụ án là có căn cứ.
- Các bị cáo là người bị kết án nên phải chịu tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về điều luật áp dụng và tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Lê Văn S, Nguyễn Văn S1, Trần Nguyên C1, Nguyễn Văn H2, Lô Văn L, Bùi Nguyên N phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt xử phạt bị cáo Lê Văn S 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ đi số ngày bị cáo đã bị tạm giữ 06/6/2024 đến ngày 12/6/2024 (01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày ngày cải tạo không giam giữ). Giao bị cáo Lê Văn S cho UBND xã C, huyện C, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Nghệ An nhận được quyết định thi hành án. Giải quyết việc vắng mặt nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú của người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S1 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ đi số ngày bị cáo đã bị tạm giữ 06/6/2024 đến ngày 12/6/2024 (01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày ngày cải tạo không giam giữ). Giao bị cáo Nguyễn Văn S1 cho UBND phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thị xã T, tỉnh Nghệ An nhận được quyết định thi hành án. Giải quyết việc vắng mặt nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú của người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ được thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt xử phạt bị cáo Trần Nguyên C1 số tiền từ 20.000.000 đ (Hai mươi) triệu đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H2 số tiền từ 20.000.000 đ (Hai mươi) triệu đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt xử phạt bị cáo Lô Văn L số tiền từ 20.000.000 đ (Hai mươi) triệu đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 và Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt xử phạt bị cáo Bùi Nguyên N số tiền từ 20.000.000 đ (Hai mươi) triệu đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
-
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 5.840.000 đ (Năm triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng) tại biên lai thu tiền số 0000064 ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) chiếc chiếu cói màu nâu đã qua sử dụng; 01 (Một) bộ tú lơ khơ màu xanh đã qua sử dụng, gồm 41 quân bài.
Vật chứng đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Con Cuông quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 35 ngày 15/8/2024 giữa Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Con Cuông.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Lê Văn S, Nguyễn Văn S1, Trần Nguyên C1, Nguyễn Văn H2, Lô Văn L, Bùi Nguyên N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự các bị cáo Lê Văn S, Nguyễn Văn S1, Trần Nguyên C1, Nguyễn Văn H2, Lô Văn L, Bùi Nguyên N có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hà Văn Hải |
Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 34/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Sỹ và ĐB
