Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

Q.HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG

Bản án số: 34 /2023/HNGĐ-ST

Ngày: 18/8/2023

V/v "Ly hôn"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Loan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Phú Cường và ông Huỳnh Thanh Trà

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Minh Tâm - Cán bộ TAND quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 79/2023/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/QĐXX-ST ngày 19 tháng 7 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07/8/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Trần L, sinh năm: 1973. Địa chỉ: Lô 16-17 đường N phường Bình T, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng (có mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Vĩnh P, sinh năm: 1972. Địa chỉ: Lô 16-17 đường N phường Bình T, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nộp tại Tòa án ngày 15/5/2023 và tại phiên tòa hôm nay bà Đặng Thị Trần L trình bày:

- Về hôn nhân: Bà Đặng Thị Trần L và ông Nguyễn Vĩnh P kết hôn với nhau vào năm 2014, đăng ký kết hôn tại UBND phường Thanh B, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, bà L và ông P sống tại 189 Hoàng D, phường Nam D, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Từ năm 2018 đến nay vợ chồng về sống tại lô 16-17 đường N phường Bình T, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình và quan điểm sống không hợp, ông P thường xuyên bia rượu về nhà gây gỗ, vợ chồng cải vã nhau. Bà L cho rằng năm 2009 bà và ông P đã từng ly hôn, nhưng vì con chung năm 2014 vợ chồng đã kết hôn lại để chung sống nhưng vẫn không hạnh phúc. Nay bà L nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn để sống chung, tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Vĩnh P.

- Về nuôi con chung : Bà L và ông P có 01 con chung là Nguyễn Đặng Hoàng A - sinh năm 1998.

Con chung của bà L và ông P đã thành niên nên bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà L trình bày bà và ông P không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản: Thông báo thụ lý; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn là ông Nguyễn Vĩnh P nhưng ông P vẫn không đến Tòa án và không có ý kiến bằng văn bản nộp tại Tòa án về nội dung khởi kiện của bà L.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử cũng như việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình tuyên xử:

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của của bà Đặng Thị Trần L đối với ông Nguyễn Vĩnh P.

- Về con chung : Bà L và ông P có 01 con chung là Nguyễn Đặng Hoàng Anh - sinh năm1998 đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Do bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung tranh chấp:

2.1 Về hôn nhân : Bà Đặng Thị Trần L và ông Nguyễn Vĩnh P kết hôn với nhau vào năm 2014, đăng ký kết hôn tại UBND phường Thanh B, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng trên cơ sở tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Tại phiên tòa, bà L xin ly hôn với ông P vì cho rằng mâu thuẫn vợ chồng kéo dài, không thể hàn gắn để sống chung, tình cảm của bà dành cho ông P không còn.

Xét yêu cầu của bà L thì thấy: Tại Bản án số 05/2009/HNGĐ-ST ngày 14/4/2009 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu đã xét xử cho bà L được ly hôn với ông P. Năm 2014 bà L và ông P lại đăng ký kết hôn tại UBND phường Thanh B, tuy nhiên khi trở lại chung sống giữa bà L và ông P lại phát sinh mâu thuẫn, theo bà L trình bày thì ông P thường xuyên bia rượu về nhà gây gỗ, vợ chồng luôn cãi nhau. Việc ông P không đến Tòa án để giải quyết việc xin ly hôn của bà L đối với ông, chứng tỏ ông P không tôn trọng pháp luật và cũng không quan tâm đến tình trạng hôn nhân của vợ chồng. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà L và ông P trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được

nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L là phù hợp với Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

2.2 Về nuôi con chung: Bà L và ông P có 01 con chung tên là Nguyễn Đặng Hoàng A - sinh năm 1998 đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đề cập đến.

2.3 Về tài sản chung và nợ chung: Bà L xác định bà và ông P không có tài sản chung, không nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đề cập đến.

[3] Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà L phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Thị Trần L về việc”ly hôn” đối với ông Nguyễn Vĩnh P.

Xử:

1. Về hôn nhân: Cho bà Đặng Thị Trần L ly hôn ông Nguyễn Vĩnh P.

2. Về con chung: Bà Đặng Thị Trần L và ông Nguyễn Vĩnh P có 01 con chung tên là Nguyễn Đặng Hoàng A - sinh năm 1998 đã thành niên, bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đề cập đến.

3.Về tài sản chung và nợ chung: Bà L xác định bà và ông P không có tài sản chung, không nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đề cập đến.

4. Án phí HNGĐ-ST 300.000 đồng bà Đặng Thị Trần L phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà L đã nộp theo biên lai thu số 7514 ngày 26 tháng 5 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Bà L đã nộp đủ án phí.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Q Hải Châu;
  • - Cơ quan THADS Q. Hải Châu;
  • - UBND phường Thanh Bình (TLKHSỐ 54, ngày 07/5/2014);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Hồng Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2023/HNGĐ-ST ngày 18/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về ly hôn

  • Số bản án: 34/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: y hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger