Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NHA TRANG

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2025/HS-ST

Ngày 18/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Cát Hoàng Trân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lưu Văn Có
  2. Bà Nguyễn Thị Lý

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa: Bà Châu Thị Kim Ngọc – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa công khai xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 408/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:12/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Tự Phúc A

Sinh ngày 15/12/2007 tại: Khánh Hòa; Nơi cư trú: F B - phường P - thành phố N - tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Tự Vũ T (Đã chết); con bà: Nguyễn Thị Phương T1 Sinh năm 1984

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo đang bị bắt, tạm giam từ ngày 21/8/2024. Hiện bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N.

Bị cáo có mặt

* Đại diện hợp pháp của bị cáo A: Bà Nguyễn Thị Phương T1; Nơi cư trú: F B, P, N, Khánh Hòa. Có mặt

* Người bào chữa cho bị cáo A: Bà Nguyễn Thị Anh T2 – Sinh năm 1985 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh K. Có mặt

* Bị hại: Bà Lê Bảo K – sinh năm 1983

Nơi cư trú: Số D L, P, N, Khánh Hòa. Vắng mặt

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Nguyễn Đăng V – sinh năm 1986
  • Nơi cư trú: Lô A ô DC 7 Khu tái định cư V, N, Khánh Hòa. Vắng mặt

  • Hoàng Quốc L – sinh năm 2010
  • Nơi cư trú: 5 H, V, N, Khánh Hòa. Vắng mặt

Đại diện hợp pháp của anh L: Bà Nguyễn Thị Thu T3 – sinh năm 1983.

Nơi cư trú: 5 H, V, N, Khánh Hòa. Vắng mặt.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ ngày 26/10/2023, Lê Tự Phúc A rủ Hoàng Phúc L1 (sinh năm 2010) đi cướp giật tài sản, L1 đồng ý. A điều khiển xe máy hiệu AB gắn biển kiểm soát 79N1-302.53 chở L1 ngồi sau đến khu vực trước nhà số D đường L, P, N, Khánh Hòa thì phát hiện thấy chị Lê Bảo K, đang đứng trước nhà, trên tay cầm 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xsmax, A chỉ cho L1 thấy rồi điều khiển xe áp sát vào người chị K cho L1 ngồi sau dùng tay giật điện thoại di động của chị K sau đó nhanh chóng điều khiển xe bỏ chạy. Sau khi cướp giật được điện thoại cả hai mang đến cửa hàng Nhật Quang số 03 đường N, P, N, Khánh Hòa bán cho anh Nguyễn Đăng V được 1.000.000 đồng, chia nhau tiêu xài hết.

Tại cơ quan Công an, Lê Tự Phúc A và Hoàng Quốc L thừa nhận toàn bộ hành vi của mình. Ngoài ra A còn khai nhận vào ngày 04/11/2023 tại bờ biển khu vực thuộc C phường V, N, Khánh Hòa, A cùng với Phan Võ Lê Phúc N (sinh ngày 17/3/2008) đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus và 01 ví bên trong có 1.000.000 đồng của ông Phạm Văn T4.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 359/KL- HĐĐGTS và số 360/KL- HĐĐGTS ngày 10/5/2024 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố N kết luận: 01 điện thoại di động Iphone 6 Plus – 128GB trị giá 1.200.000 đồng và 01 điện thoại di động Iphone Xsmax – 128GB trị giá 5.500.000 đồng.

Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Lê Tự Phúc A đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo chưa có tiền án tiền sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất và không có yêu cầu đối với bị cáo. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu bồi thường.

Về vật chứng vụ án: 01 điện thoại di động Iphone Xsmax và 01 điện thoại di động Iphone 6 plus đã trả lại chủ sở hữu.

Đối với Hoàng Quốc L, sinh ngày 23/5/2010 thực hiện hành vi cướp giật tài sản ngày 26/10/2023 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Phan Võ Lê Phúc N, sinh ngày 17/3/2008 thực hiện hành vi trộm cắp cùng với bị cáo Lê Tự Phúc A ngày 04/11/2023 đều chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan Công an đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với A và N.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Lê Tự Phúc A có lời khai phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo trình bày: Không có ý kiến gì về tội danh cũng như hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố và đề nghị xét xử. Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình.

Người bào chữa cho bị cáo: Thống nhất với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân thành phố N cũng như mức hình phạt đã đề nghị. Mong Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo với mức thấp nhất để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Lê Tự Phúc A từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.

2

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng:
    1. Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
    2. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử, người đại diện hợp pháp của bị cáo là chị ruột Hoàng Mai T5 nhưng bà T5 vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, có mặt mẹ ruột của bị cáo là bà Nguyễn Thị Phương T1 – sinh năm 1984 nên Hội đồng xét xử quyết định bà T1 tham gia phiên tòa với tư cách là người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Tự Phúc A thay cho bà Hoàng Mai T5. Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng trong hồ sơ đã có lời khai tại Cơ quan điều tra và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án. Căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
  2. Về tội danh và khung hình phạt: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ cơ sở để kết luận, bị cáo Lê Tự Phúc A đã có hành vi cướp giật 01 điện thoại di động Iphone Xsmax trị giá 5.500.000 đồng của chị Lê Bảo K. Như vậy, Cáo trạng số 342/CT-VKS-HS ngày 26/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa truy tố bị cáo Lê Tự Phúc A về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  3. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, chính hành vi của bị cáo đã gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý hoang mang lo sợ, gây dư luận xấu trong nhân dân. Bị cáo điều khiển xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trường hợp “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội để răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần xem xét bị cáo Lê Tự Phúc A thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhận thức về pháp luật còn hạn chế. Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có tiền án, tiền sự. Hội đồng xét xử cần xem xét tình tiết giảm nhẹ cũng như những quy định chung của pháp luật đối với người dưới 18 tuổi để giảm cho bị cáo một phần hình phạt, thể hiện các nguyên tắc nhân đạo, công bằng của chính sách hình sự của Nhà nước.

  1. Về căn cứ quyết định hình phạt: Mức hình phạt do đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo Lê Tự Phúc A từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  2. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người dưới 18 tuổi vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất và không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên không xem xét. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên không xem xét.
  4. Về xử lý vật chứng: Không có
  5. Về án phí: Bị cáo Lê Tự Phúc A – sinh ngày 15/12/2007, thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi nên thuộc trường hợp miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 6 Điều 91 và khoản 2 Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án).

  1. Xử phạt: Bị cáo Lê Tự Phúc A 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/8/2024.
  2. Về án phí: Bị cáo Lê Tự Phúc A được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  3. Quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND TP. Nha Trang;
  • - CQ CSĐT Công an TP. Nha Trang;
  • - CQ THAHS Công an TP. Nha Trang;
  • - Chi cục THADS TP. Nha Trang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Cát Hoàng Trân

4

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự sơ thẩm (cướp giật tài sản)

  • Số bản án: 34/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cướp giật tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Tự Phúc An
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger