Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẾN CẦU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17-7-2024

V/v tranh chấp “Ly hôn và con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vui.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Minh Kha;
  2. Ông Lê Thanh Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trang Hoàng Mỹ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thảo Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 59/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HN ngày 01 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Cao Thúy H, sinh năm: 1990.

Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Trần Ý, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh.

Tất cả vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Cao Thúy H trình bày: Chị và anh Nguyễn Trần Ý tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng chung sống có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Phương V, sinh ngày 27-8-2012 và Nguyễn Ngọc Minh H1, sinh ngày 26-11-2016, hiện chị đang nuôi dưỡng.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc, tuy nhiên kể từ khi chị sinh con thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, do anh Ý không lo phụ giúp kinh tế gia đình, mọi chi phí sinh hoạt trong gia đình đều do một mình chị, thỉnh thoảng anh Ý có phụ một ít, không quan tâm chăm sóc vợ con, thường xuyên uống rượu kiếm chuyện chửi mắng chị. Chị có khuyên nhủ nhiều lần nhưng anh Ý vẫn không thay đổi. Năm 2021 chị có nộp đơn yêu cầu ly hôn, hòa giải viên hòa giải, anh Ý năn nỉ và viết cam kết sẽ sửa đổi không uống rượu và quan tâm chăm sóc vợ con, thấy anh Ý có thiện chí nên chị cho anh Ý cơ hội sửa đổi và để cho con có gia đình hạnh phúc nên chị đồng ý rút đơn về đoàn tụ tiếp tục chung sống. Tuy nhiên anh Ý vẫn không thay đổi từ đó cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Chị nhận thấy tình cảm vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Ý.

Về con chung: Chị yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con, không yêu cầu anh Ý cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Do bận công việc nên chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn anh Nguyễn Trần Ý trình bày: Tại bản tự khai ngày 31-5-2024 anh thống nhất thời gian chung sống, có đăng ký kết hôn, con chung, tài sản chung và nợ chung. Trong thời gian chung sống anh chị mâu thuẫn về tài chính nên xảy ra nhiều mâu thuẫn nên vợ chồng sống ly thân từ tháng 11-2023 cho đến nay. Nay chị H yêu cầu ly hôn, anh không đồng ý ly hôn mà yêu cầu được đoàn tụ.

Trường hợp ly hôn:

Về con chung: Anh tôn trọng ý kiến của các con, con có nguyện vọng sống với ai thì người đó nuôi, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Trường hợp các con nguyện vọng sống với chị H thì anh không cấp dưỡng vì anh không có khả năng nhưng anh sẽ cho tiền học phí con đi học.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Do bận công việc nên anh Ý có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Cao Thúy H đối với anh Nguyễn Trần Ý; Con chung, giao cho chị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Ngọc Phương V, sinh ngày 27-8-2012 và Nguyễn Ngọc Minh H1, sinh ngày 26-11-2016, anh Ý không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu; Tài sản, chị H và anh Ý không yêu cầu nên không xem xét giải quyết; Nợ chung, chị H và anh Ý khai không có nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Cao Thúy H và anh Nguyễn Trần Ý có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp với Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Cao Thúy H và anh Nguyễn Trần Ý kết hôn trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

[3] Xét tình trạng hôn nhân của anh chị thì thấy rằng: Anh chị chung sống vào năm 2011, trong thời gian sống chung anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn do anh Ý đi làm mà không lo phụ giúp kinh tế gia đình, không quan tâm chăm sóc vợ con, thường xuyên uống rượu. Mặc dù anh Ý không đồng ý ly hôn và yêu cầu được đoàn tụ nhưng trong thời gian sống ly thân chị H và anh Ý không gặp nhau bàn bạc việc đoàn tụ, không ai quan tâm chăm sóc đến ai, hơn nữa anh Ý không tham gia tố tụng và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt chứng tỏ anh Ý không có thiện chí đoàn tụ. Do đó, có đủ căn cứ cho rằng mâu thuẫn giữa chị H và anh Ý đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Chị H yêu cầu được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Ngọc Phương V, sinh ngày 27-8-2012 và Nguyễn Ngọc Minh H1, sinh ngày 26-11-2016, tại bản tự khai anh Ý đồng ý theo nguyện vọng của các con. Xét thấy, từ ngày anh chị sống ly thân, cháu V và H1 được chị H nuôi dưỡng chăm sóc tốt, hơn nữa cháu V và H1 nguyện vọng sống với chị H nên Hội đồng xét xử cần giao con cho chị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Riêng việc cấp dưỡng nuôi con, chị H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung: Chị Cao Thúy H và anh Nguyễn Trần Ý không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[6] Về nợ chung: Chị Cao Thúy H và anh Nguyễn Trần Ý khai không có nên không xem xét giải quyết.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí: Chị H phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Cao Thúy H với anh Nguyễn Trần Ý. Chị H được ly hôn với anh Ý.
  2. Về con chung: Giao cho chị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Ngọc Phương V, sinh ngày 27-8-2012 và Nguyễn Ngọc Minh H1, sinh ngày 26-11-2016. Anh Ý không phải cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu.

    Anh Nguyễn Trần Ý có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung: Chị Cao Thúy H và anh Nguyễn Trần Ý không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
  4. Về nợ chung: Chị Cao Thúy H và anh Nguyễn Trần Ý khai không có nên không xem xét giải quyết.
  5. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình. Khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0012189 ngày 25-4-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu. Ghi nhận chị H đã nộp đủ tiền án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh theo trình tự phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV&THA. TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Bến Cầu;
  • - Chi cục THADS huyện Bến Cầu;
  • - UBND xã Long Khánh (Số 76/2011);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Vui

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp ly hôn và con chung

  • Số bản án: 34/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn và con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger