Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/DS-PT

Ngày: 17/6/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng thế chấp tài sản quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mai Hạnh.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Năm.

Bà Huỳnh Thị Hồng Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Thiên Phước - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Quý - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi; Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 17/2024/TLPT-DS ngày 27 tháng 02 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng thế chấp tài sản quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2023/DS-ST ngày 30/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 62/2024/QĐ-PT ngày 26/4/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.

Địa chỉ: A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn T, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lã Thị H, chức vụ: Phó Giám đốc Khối xử lý nợ S - Theo Văn bản uỷ quyền số 68/2022/UQSeABank ngày 14/01/2022.

Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Công T1, chức vụ: Chuyên viên chuyên xử lý nợ miền – Theo Văn bản uỷ quyền số: 7730/2022/UQSeABank ngày 27/5/2022; có mặt.

Địa chỉ: Số A P, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

Bị đơn: Ông Lê Văn G, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1976; vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Xóm E, thôn M, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn, người được bị đơn uỷ quyền: Luật sư Bùi Phú T2 – thuộc Công ty L; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Cao Thị Minh T3, sinh năm 1966; có mặt.

- Ông Lê Bá T4, sinh năm 1963; vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Xóm E, thôn M, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Bá T4: Bà Cao Thị Minh T3, sinh năm 1966. Theo Văn bản ủy quyền ngày 28 tháng 5 năm 2024; có mặt.

- Văn phòng Công chứng Nguyễn Ngọc H1; có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn L, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi.

- Văn phòng Công chứng Ngô Văn H2; có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Số A L, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 27/5/2022, Bản tự khai ngày 06/7/2022 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn đại diện Ngân hàng trình bày:

Ngày 14/4/2021 ông Lê Văn G và bà Nguyễn Thị C và Ngân hàng thương mại cổ phần Đ- Chi nhánh Q, ký kết hợp đồng tín dụng số: REF 2110400298/HDTD/QN1 LVG, vay số tiền 392.000.000 đồng, mục đích vay mua bất động sản, thời gian vay là 84 tháng, kể từ ngày 16/4/2021, lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 6,99%/năm, 12 tháng đầu. Lãi suất cho vay = lãi suất cơ sở do S đang áp dụng tại thời điểm điều chỉnh công với 2,99% năm cuối cùng + 3,5%/năm. Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông G, bà C chỉ thực hiện nghĩa vụ tạm tính đến ngày 29/9/2023 trả cho Ngân hàng số tiền 28.327.912 đồng, trong đó: Tiền nợ gốc là: 12.710.904 đồng, nợ tiền lãi là: 15.617.008 đồng.

Ngân hàng nhiều lần nhắc nhở, ông G, bà C không thực hiện. Ông Lê Văn G và bà Nguyễn Thị C vi phạm nghĩa vụ trả nợ.

Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (viết tắt là Ngân hàng) yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lê Văn G và bà Nguyễn Thị C trả nợ cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày ngày 29/9/2023. Tổng số tiền 469.386.200 đồng, trong đó: Nợ tiền gốc vay là: 379.289.096 đồng, nợ tiền lãi suất trong hạn 78.024.179 đồng, nợ tiền lãi suất quá hạn 12.072.925 đồng và tiếp tục trả nợ lãi phát sinh từ ngày 30/9/2023 tính theo lãi suất quy định tại hợp đồng cho vay từng lần số: REF 2110400298/HDTD/QN1 LVG đã ký cho đến khi trả hết nợ.

Trường hợp ông Lê Văn G và bà Nguyễn Thị C không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì đề nghị Tòa án tuyên phát mãi tài sản thế chấp thửa đất số: 1482 tờ bản đồ số: 8, diện tích 102,6m², tại xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền trên đất số: CX 173460, số vào sổ cấp: CS 14691 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 17/7/2020 đứng tên Lê Văn G, theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: RE F2110400298/HDTC/QN1-LVG ngày 14/4/2021.

Trong trường hợp phát mãi tài sản thế chấp vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì ông G, bà C phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.

Tại Biên bản tự khai ngày 29/8/2022 bị đơn ông Lê Văn G, đại diện bị đơn và bà Nguyễn Thị C trình bày:

Ngày 14/4/2021 vợ chồng ông, bà có vay của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ số tiền 392.000.000 đồng, tại Hợp đồng tín dụng số: REF 2110400298/HDTD/QN1 LVG thời gian vay là 84 tháng, lãi suất là 6,99%/năm, để thực hiện khoản vay, tài sản đảm bảo, đã thế chấp cho Ngân hàng là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền trên đất, thửa đất số: 1482, tờ bản đồ số: 8, diện tích 102,6m², tại xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi, do Sở T6 tường tỉnh Quảng Ngãi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền trên đất số: CX 173460, số vào sổ cấp: CS 14691, ngày 17/7/2020 đứng tên Lê Văn G, theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: RE F2110400298/HDTC/QN1-LVG ngày 14/4/2021. Do làm ăn gặp khó khăn không có tiền để trả cho Ngân hàng theo thoả thuận. Nay vợ chồng ông, bà còn nợ Ngân hàng số tiền 469.386.200 đồng, trong đó: Nợ tiền gốc vay là: 379.289.096 đồng, nợ tiền lãi suất trong hạn 78.024.179 đồng, nợ tiền lãi suất quá hạn 12.072.925 đồng.

Theo đơn khởi kiện và Bản tự khai ngày 21/11/2022 người có quyền lợi nghĩa vụ liên bà Cao Thị Minh T3 và ông Lê Bá T4 trình bày:

Vào khoảng tháng 8/2020 ông bà mua thửa đất số 1482, tờ bản đồ số 8, diện tích 102,6m², tại xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi của ông Lê Văn G chuyển nhượng, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền trên đất số: CX 173460, số vào sổ cấp: CS 14691 do Sở T6 tường tỉnh Quảng Ngãi cấp ngày 17/7/2020. Sau khi chuyển nhượng thửa đất nói trên được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Q - Chi nhánh huyện T chỉnh lý trang 3 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 01/10/2022. Tháng 09/2020 ông bà có nhu cầu xây dựng nhà ở, ông G là người hàng xóm cũng là người nhận thầu xây dựng, nên ông bà có nhờ ông G nhận xây nhà giúp. Giữa ông bà và ông G có thoả thuận xây dựng nhà cấp IV trọn gói với tổng số tiền 300.000.000 đồng. Sau khi tiến hành xây dựng ông bà đưa trước cho ông G số tiền 190.000.000 đồng. Quá trình xây dựng phát sinh thêm 40.000.000 đồng. Ông G cho ông bà mượn lại 100.000.000 đồng để chi trả phát sinh mua thiết bị nhà ở. Khi ông G bàn giao nhà cho ông bà chốt còn nợ ông G 150.000.000 đồng và 100.000.000 đồng tiền mượn. Ông bà đến Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện T thế chấp thửa đất số 1482 để vay tiền trả cho ông G nhưng Ngân hàng không cho lý do ông bà là nhóm khách hàng nợ xấu. Ông bà về nhà trao đổi với ông G đứng ra vay giúp 200.000.000 đồng và thoả thuận chuyển nhượng thửa đất 1482 cho ông G để vay giúp, ông bà có trách nhiệm trả gốc và tiền lãi cho đến khi trả xong nợ. Sau khi thoả thuận ông bà cùng đến Văn phòng C1 Nguyễn Ngọc H1 làm thủ tục chuyển nhượng số 04457, quyển sổ 09.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 03/12/2020, ông bà đưa cho ông G 10.000.000 đồng để làm thủ tục, sau đó được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Q - Chi nhánh huyện T chỉnh lý trang 3 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 03/02/2021 (viêc chuyển nhượng này nhằm mục đích để ông G vay tiền giúp ông bà), ông bà không nhận tiền theo hợp đồng chuyển nhượng. Ông bà hỏi ông G nhiều lần nhưng ông G nói chưa vay tiền được và ông nói đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhờ người khác vay. Đến tháng 8/2021 ông bà không thấy ông G giao lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhiều lần qua nhà ông G đòi lại thì ông G lẩn tránh không chịu gặp. Sau đó ông bà tìm hiểu mới biết ông G đã thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay tiền Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh Q số tiền 392.000.000 đồng. Ông G chiếm đoạt không đưa cho ông bà là vi phạm đến quyền lợi ích hợp pháp của ông bà. Trên thửa đất có nhà ở của gia đình bà nhưng vẫn nhận thế chấp là trái quy định.

Nay ông bà yêu cầu Toà án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C1 chứng thực số 04457, quyển sổ 09.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 03/12/2020 vô hiệu và hợp đồng thế chấp số: RE F2110400298/HDTC/QN1-LVG ngày 14/4/2021 là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền trên đất, thửa đất số: 1482, tờ bản đồ số: 8, diện tích 102,6m², tại xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi được Văn phòng C1 chứng thực ngày 14/4/2021 vô hiệu.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc H1 có văn bản trình bày như sau:

Ngày 03/12/2020 Văn phòng C1 có thụ lý giải quyết hồ sơ công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được giao kết giữa: Bên chuyển nhượng (bên A) là bà Cao Thị Minh T3 và ông Lê Bá T4. Bên nhận chuyển nhượng (bên B) là ông Lê Văn G, nguồn gốc QSD đất của bà T3, ông T4 là do nhận chuyển nhượng của ông G, mà nguồn gốc quyền sử dụng đất của ông G là “nhận thừa kế được công nhận quyền sử dụng đất như giao đất có thu tiền sử dụng đất”.

Tại thời điểm các bên thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số: 1482, tờ bản đồ số: 08, địa chỉ: xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi, diện tích là 102,6m². Thửa đất nêu trên không bị ngăn chặn, không tranh chấp nên Văn phòng công chứng Nguyễn Ngọc H1 chứng nhận. Các bên đã thoả thuận giao kết hợp đồng tại thời điểm ký kết hợp đồng các bên có năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật. Mục đích nội dung thoả thuận của hợp đồng chuyển nhượng QSD đất không vi phạm pháp luật, không trái với đạo đức xã hội. Do đó, Văn phòng Công chứng Nguyễn Ngọc H1 đã chứng nhận và phát hành số công chứng 04457, quyển số 09.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 03/12/2020. Vì vậy yêu cầu Toà án giải quyết vụ kiện theo quy định.

* Bản án dân sự sơ thẩm số 20/2023/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi đã quyết định:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.

Buộc ông Lê Văn G, bà Nguyễn Thị C có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ, tạm tính đến ngày 29/9/2023. Tổng số tiền 469.386.096 đồng, trong đó: Nợ tiền gốc vay là: 379.289.096 đồng, nợ tiền lãi suất 90.097.104 đồng. Ông Lê Văn G, bà Nguyễn Thị C còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh từ ngày 30/9/2023 cho đến khi trả xong các khoản nợ theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận tại hợp đồng cho vay từng lần số: REF 2110400298/HDTD/ QN1 LVG đã ký ngày 14/4/2021.

Trường hợp ông Lê Văn G và bà Nguyễn Thị C không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì phát mãi tài sản thế chấp thửa đất số: 1482, tờ bản đồ số: 8, diện tích 102,6m², tại xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền trên đất số: CX 173460, số vào sổ cấp: CS 14691 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 17/7/2020 đứng tên Lê Văn G, theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: RE F2110400298/HDTC/QN1-LVG ngày 14/4/2021.

Trường hợp phát mãi tài sản thế chấp vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì ông G, bà C phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi trả xong các khoản nợ.

Khi xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền trên đất tại giai đoạn thi hành án. Ông Lê Bá T4 và bà Cao Thị Minh T3 được quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng, nếu ông T4, bà T3 có nhu cầu.

2. Không chấp nhận đơn khởi kiện của ông Lê Bá T4 và bà Cao Thị Minh T3.

Tuyên hợp đồng chuyển nhượng là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền trên đất, thửa đất số: 1482, tờ bản đồ số: 8, diện tích 102,6m², tại xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi, được Văn phòng C1 chứng thực số 04457, quyển sổ 09.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 03/12/2020 vô hiệu.

Tuyên huỷ hợp đồng thế chấp số: RE F2110400298/HDTC/QN1-LVG ngày 14/4/2021 là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền trên đất, thửa đất số: 1482, tờ bản đồ số: 8, diện tích 102,6m², tại xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. Được Văn phòng Công chứng Ngô Văn H2 chứng thực ngày 14/4/2021 vô hiệu.

Ngoài ra Bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, tuyên về lãi suất chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

* Ngày 09 tháng 10 năm 2023, bà Cao Thị Minh T3 và ông Lê Bá T4 có đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án số 20/2023/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi theo hướng chấp nhận yêu cầu độc lập của ông bà. Ngày 28/5/2024 bà T3, ông T4 kháng cáo bổ sung cho rằng Bản án sơ thẩm không áp dụng đúng pháp luật, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, đề nghị hủy Bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm bà T3 yêu cầu hủy một phần Bản án sơ thẩm, phần liên quan tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng thế chấp tài sản quyền sử dụng đất.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308, 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của bà Cao Thị Minh T3 và ông Lê Bá T4; hủy một phần Bản án sơ thẩm đối với nội dung “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng thế chấp tài sản quyền sử dụng đất”; giữ nguyên một phần Bản án sơ thẩm về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” do không có kháng cáo, kháng nghị nên không xem xét giải quyết và có hiệu lực pháp luật khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Việc kháng cáo của bà Cao Thị Minh T3 và ông Lê Bá T4 được thực hiện đúng trình tự, thủ tục và đúng hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được chấp nhận.

[1.2] Ông Lê Văn G, bà Nguyễn Thị C là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Văn phòng Công chứng Ngô Văn H2, Văn phòng Công chứng Nguyễn Ngọc H1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc buộc ông Lê Văn G, bà Nguyễn Thị C phải thanh toán số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Ngày 14/4/2021 ông Lê Văn G và bà Nguyễn Thị C ký kết hợp đồng tín dụng số: REF 2110400298/HDTD/QN1 LVG với Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh Q vay số tiền 392.000.000 đồng, mục đích vay mua bất động sản, thời gian vay là 84 tháng, kể từ ngày 16/4/2021, lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 6,99%/năm, 12 tháng đầu. Lãi suất cho vay bằng lãi suất cơ sở do S đang áp dụng tại thời điểm điều chỉnh công với 2,99% năm cuối cùng + 3,5%/năm. Quá trình thực hiện hợp đồng ông G, bà C vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng, chỉ trả cho Ngân hàng số tiền 28.327.912 đồng, tiền nợ gốc là: 12.710.904 đồng, tiền nợ lãi là: 15.617.008 đồng. Bị đơn ông G, bà C công nhận còn nợ Ngân hàng số tiền 469.386.200 đồng, trong đó nợ gốc vay là 379.289.096 đồng, nợ tiền lãi trong hạn là 78.024.179 đồng, nợ tiền lãi suất quá hạn 12.072.925 đồng. Do đó, căn cứ Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc ông Lê Văn G, bà Nguyễn Thị C có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng và tiếp tục trả nợ lãi phát sinh từ ngày 30/9/2023 theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng cho đến khi trả xong các khoản nợ là có căn cứ. Sau khi xét xử sơ thẩm các bên đương sự không kháng cáo, không có kháng nghị nên phần nội dung đã tuyên nêu trên tại Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.

[2.2] Xét yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Bá T4 và bà Cao Thị Minh T3 tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 1482 vô hiệu, nhận thấy:

Nguồn gốc thửa đất 1482, tờ bản đồ số 8, diện tích 102,6m², đất ở nông thôn, xã N, huyện T được Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 17/07/2020 cho ông Lê Văn G. Ngày 01/10/2020 Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Q xác nhận tại mục IV Giấy chứng nhận nội dung chuyển nhượng cho bà Cao Thị Minh T3, CMND số [...], hộ khẩu thường trú tại xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, theo hồ sơ số 124951.CN.001. Sau đó ông T4, bà T3 thuê ông Lê Văn G xây dựng ngôi nhà cấp IV trên thửa đất. Khi đang xây dựng ngôi nhà bà T3 cho rằng còn nợ tiền thi công ngôi nhà chưa thanh toán cho ông G khoảng 250.000.000 đồng (bút lục 136), còn ông G cho rằng ông T4, bà T3 còn nợ ông tiền thi công xây nhà khoảng 324.000.000 đồng (bút lục 95). Ngày 03/12/2020 bà Cao Thị Minh T3, ông Lê Bá T4 lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất 1482 cho ông Lê Văn G được Văn phòng Công chứng Nguyễn Ngọc H1 chứng thực số công chứng 04457, quyển số 9.TP/CC – SCC/HDDGD, giá tiền chuyển nhượng ghi trên hợp đồng là 20.000.000 đồng. Theo lời khai của ông T4, bà T3 vì bà đang có nợ xấu tại Ngân hàng nên mục đích lập hợp đồng chuyển nhượng đất để bà T3 nhờ ông G thế chấp tài sản vay Ngân hàng hộ bà số tiền 200.000.000 đồng để trả nợ tiền xây nhà cho ông G, sau khi thế chấp tài sản vay số tiền 392.000.000 đồng tại Ngân hàng ông G không giao tiền cho bà. Theo lời khai ông G (bút lục 161) bà T3 chuyển nhượng đất cho ông để cấn trừ khoản tiền nợ ông nhưng không cung cấp được tài liệu chứng minh. Theo tài liệu giấy làm chứng từ ngày 03/12/2020 do bà Tâm giao n (bút lục 134) có nội dung: “Tôi Cao Thị Minh T3 có nhờ anh Lê Văn G vay tiền dùm cho tôi để trả tiền xây nhà còn thiếu nên tôi chuyển nhượng theo giấy tờ thôi, còn nhà đất là của Cao Thị Minh T3 còn tiền tôi nhờ vay là hàng tháng tôi trả lãi suất theo Ngân hàng. Phía dưới tờ giấy ông Lê Văn G viết ký tên nội dung: Tôi đồng ý vay cho bà Cao Thị Minh T3. Bà T3 phải có trách nhiệm trả lãi và gốc đầy đủ như trong giấy tờ thế chấp của Ngân hàng.” Theo tài liệu bà Tâm giao n đề ngày 04/01/2022 (bút lục 219) do ông G viết, thể hiện ông Lê Văn T5 (con trai bà T3) thỏa thuận ông T5 sẽ trả nợ khoản tiền ông G vay Ngân hàng và ông G sẽ chuyển nhượng lại căn nhà và đất cho cháu T5. Như vậy, tại thời điểm ông T4, bà T3 lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông G với mục đích hai bên đã thỏa thuận để ông G đứng tên vay tiền Ngân hàng hộ bà T3, trên thực tế giữa hai bên không thực hiện quyền và nghĩa vụ với nhau, theo ông T4, bà T3 giữa hai bên không giao nhận tiền chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất, nhà đất tại thời điểm lập hợp đồng chuyển nhượng ông T4, bà T3 vẫn ở và quản lý, sử dụng, không bàn giao nhà đất. Trên đất có ngôi nhà cấp 4 của ông T4, bà T3 nhưng các bên không giải quyết về tài sản trên đất. Như vậy, có đủ căn cứ xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 03/12/2023 giữa ông T4, bà T3 và ông G là vô hiệu do giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác là thế chấp tài sản để vay tiền hộ vi phạm Điều 122, 124 và Điều 407 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Do đó, ông T4, bà T3 yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất 1482 được Văn phòng Công chứng Nguyễn Ngọc H1 chứng thực số công chứng 04457, quyển số 9.TP/CC – SCC/HDDGD ngày 03/12/2020 là vô hiệu là có cơ sở. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định, đánh giá không đầy đủ tài liệu, chứng cứ, tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của ông T4, bà T3 là không đúng.

[2.3] Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 1482 giữa bà T3, ông T4 và ông G vô hiệu nên theo quy tại Điều 131 của Bộ luật Dân sự các bên phải hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả lại bằng hiện vật thì phải hoàn trả lại bằng tiền. Thửa đất 1482 chưa được xác định giá trị quyền sử dụng đất, Toà án cấp phúc thẩm nếu giải quyết hậu quả hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu dẫn đến các đương sự không còn quyền kháng cáo, ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.

[2.4] Xét yêu cầu của Ngân hàng về xử lý tài sản thế chấp và yêu cầu của ông T4, bà T3 tuyên Hợp đồng thế chấp số: RE F2110400298/HDTC/QN1-LVG ngày 14/4/2021 được ký kết giữa Ngân hàng với ông Lê Văn G và bà Nguyễn Thị C vô hiệu, nhận thấy:

Ngân hàng cho rằng việc xác minh tài sản thế chấp được thực hiện căn cứ vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 03/12/2020 giữa ông T4, bà T3 với ông G và nội dung chỉnh lý trang IV tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông G cung cấp. Tuy nhiên, theo tài liệu tại hồ sơ thể hiện ông T4, bà T3 chỉ chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 1482 cho ông G (nhờ ông G thế chấp Ngân hàng vay tiền hộ) mà không chuyển nhượng ngôi nhà cấp IV trên đất. Theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 14/4/2021, xác nhận phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp là quyền sử dụng đất thửa 1482. Tại biên bản đối chất ngày 18/7/2023 Ngân hàng trình bày: “………Ngân hàng có thấy vợ chồng bà T3 sinh sống trong nhà nhưng không hỏi bất kỳ vấn đề gì đối với vợ chồng bà T3”.

Tại Đơn xin xác nhận nhà trên đất ngày 07/7/2021, cam kết ngày 15/4/2021 tài liệu do Ngân hàng G1 có nội dung ông Lê Văn G cam kết ngôi nhà cấp IV trên thửa đất 1482 do ông tạo lập, xây dựng là chủ sở hữu ngôi nhà. Tuy nhiên, tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 07/9/2022 do Tòa án sơ thẩm lập thể hiện trên thửa đất 1482 có 01 ngôi nhà cấp IV có gác lửng hiện nay ông Lê Bá T4, bà Cao Thị Minh T3 và anh Lê Văn T5 đang sinh sống quản lý sử dụng từ khi xây dựng nhà năm 2020 đến nay. Xét, ngôi nhà trên đất ông T4, bà T3 không thực hiện giao dịch dân sự nào để chuyển quyền sở hữu cho ông G, bà C nhưng ông G, bà C lại cam kết với Ngân hàng ngôi nhà trên đất của ông bà là không có cơ sở. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử lý tài sản thế chấp quyền sử dụng thửa đất 1482 nhưng không giải quyết thanh toán giá trị ngôi nhà trên đất là ảnh hưởng đến quyền lợi của ông T4, bà T3. Mặt khác, Tòa án cấp sơ thẩm không làm việc và bổ sung anh Lê Văn T5 người đang ở trên đất vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm thủ tục tố tụng.

[2.5] Phần quyết định tại bản án sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 28 BLTTDS là không đúng với quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án; về chi phí tố tụng không tuyên bị đơn phải chịu nghĩa vụ chậm thi hành án cho đến khi thi hành xong theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự là thiếu sót.

[2.6] Từ nhận định trên nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng, thu thập và đánh giá tài liệu chứng cứ chưa đúng, chưa đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được; chấp nhận kháng cáo của ông T4, bà T3, huỷ một phần Bản án sơ thẩm về phần giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án đối với: Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số: RE F2110400298/HDTC/QN1-LVG ngày 14/4/2021 được ký kết giữa Ngân hàng với ông Lê Văn G và bà Nguyễn Thị C và yêu cầu khởi kiện độc lập của ông T4, bà T3 tuyên bố hợp đồng thế chấp nêu trên vô hiệu và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với thửa đất 1482 vô hiệu sẽ được Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Văn G và bà Nguyễn Thị C phải chịu án phí theo giá ngạch trên số tiền nợ phải thanh toán cho Ngân hàng là 22.775.448 đồng, cách tính, {(20.000.000 đồng + (4% x 69.386.200 đồng (phần giá trị tài sản vượt quá 400.000.000 đồng)} theo khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Hoàn trả lại số tiền 9.851.980 đồng, tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003147 ngày 12/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.

Đối với tiền tạm ứng án phí sơ thẩm 300.000 đồng bà Cao Thị Minh T3 và ông Lê Bá T4 đã nộp và chi phí xem xét thẩm định, tại chỗ tài sản thế chấp Ngân hàng đã nộp được xử lý khi giải quyết lại vụ án.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do hủy một phần Bản án sơ thẩm nên ông T4, bà T3 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho ông T4, bà T3 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0000268 ngày 17/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tư Nghĩa.

[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1, khoản 2 Điều 91 và khoản 5 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng. Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Giữ nguyên một phần Bản án sơ thẩm số 20/2023/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp hợp đồng tín dụng.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ.

Buộc ông Lê Văn G, bà Nguyễn Thị C có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ, tạm tính đến ngày 29/9/2023. Tổng số tiền 469.386.096 đồng, trong đó nợ tiền gốc vay là: 379.289.096 đồng, nợ tiền lãi suất 90.097.104 đồng. Ông Lê Văn G, bà Nguyễn Thị C còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh từ ngày 30/9/2023 cho đến khi trả xong các khoản nợ theo mức lãi suất được các bên thỏa thuận tại hợp đồng cho vay từng lần số: REF 2110400298/HDTD/ QN1 LVG đã ký ngày 14/4/2021.

2. Hủy một phần Bản án sơ thẩm đối với phần giải quyết liên quan đến tranh chấp hợp đồng thế chấp số: RE F2110400298/HDTC/QN1-LVG ngày 14/4/2021 quyền sử dụng đất, thửa đất số: 1482, tờ bản đồ số 8, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi giữa Ngân hàng với ông G, bà C và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T4, bà T3 với ông G được được Văn phòng Công chứng Nguyễn Ngọc H1 chứng thực số công chứng 04457, quyển số 9.TP/CC – SCC/HDDGD ngày 03/12/2020.

3. Giao hồ sơ vụ án về cho Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm đối với phần liên quan hợp đồng thế chấp và hợp đồng chuyển nhượng đất như nêu trên.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Văn G và bà Nguyễn Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 22.775.448 đồng (Hai mươi hai triệu, bảy trăm bảy lăm ngàn, bốn trăm bốn mươi tám đồng).

Hoàn trả lại số tiền 9.851.980 đồng (chín triệu, tám trăm năm mươi mốt ngàn, chín trăm tám mươi đồng), tiền tạm ứng án phí đã nộp cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003147 ngày 12/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.

Đối với tiền tạm ứng án phí sơ thẩm 300.000 đồng ông Lê Bá T4, bà Cao Thị Minh T3 đã nộp và chi phí xem xét thẩm định, tại chỗ tài sản thế chấp Ngân hàng đã nộp được xử lý khi giải quyết lại vụ án.

5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Bá T4, bà Cao Thị Minh T3 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho ông T4, bà T3 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0000268 ngày 17/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tư Nghĩa.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - TAND huyện Tư Nghĩa;
  • - Chi cục THADS huyện Tư Nghĩa;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Thị Mai Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/DS-PT ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI về tranh chấp hợp đồng tín dụng, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng thế chấp tài sản quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 34/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng thế chấp tài sản quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng chuyển nhượng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger