Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 34/2024/HNGĐ-ST

Ngày 17/5/2024

V/v: Tranh chấp Hôn nhân gia đình

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Tương

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Hiệp và ông Phạm Quang Hưng

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Phong - Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 50/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Công T, sinh năm 1980

Địa chỉ: Thôn A, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình;

Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 28/9/2021.

Bị đơn: Chị Phạm Thị Hồng L, sinh năm 1983

HKTT: Thôn A, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình;

Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 04/3/2022.

Địa chỉ hiện nay: Ai chi ken - An Jou shi - Hi ga shi ba ta chou Mi na mi U chi ma ha 72-1. Nhật Bản.

Hộ chiếu số N2291021 do Đ tại Nhật Bản cấp ngày 03/12/2020

(Anh T, chị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn anh T trình bày:

Anh và chị Phạm Thị Hồng L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn năm 2006 tại UBND xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống và làm ăn tại địa phương. Trong thời gian chung sống, vợ chồng có nhiều bất đồng trong quan điểm sống, chủ yếu do tính tình không hòa hợp, không tìm được tiếng nói chung. Chị L đi lao động tại Nhật Bản đã nhiều năm, hai vợ chồng không được ở gần nhau, không quan tâm gì đến nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, có chung sống với nhau cũng không có hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị L.

Về con chung: Anh và chị L có 02 con chung là cháu Nguyễn Minh P, sinh ngày 06/06/2008, hiện đang ở với anh và cháu Nguyễn Minh C, sinh ngày 29/8/2022, hiện đang sinh sống tại Nhật Bản cùng chị L, anh đề nghị được nuôi cháu P, chị L trực tiếp nuôi cháu C, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh và chị L không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai và đơn đề nghị xử vắng mặt, bị đơn là chị L trình bày:

Chị xác định thời gian kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn như anh T trình bày là đúng, vì cuộc sống chị phải đi làm ăn sinh sống tại Nhật Bản. Do tính tình không hợp nhau, thường xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, không thể tìm ra được tiếng nói chung. Anh T xin ly hôn, chị đồng ý.

Về con chung: Chị L xác nhận lời trình bày của anh T về con chung là đúng. Ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Minh C và anh T sẽ trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Minh P. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị và anh T không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do chị L đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản không thể về Việt Nam tham gia tố tụng để giải quyết việc ly hôn với anh T tại Tòa án được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt chị. Chị ủy quyền cho bố đẻ là ông Phạm Quốc D giao nhận các tài liệu, văn bản liên quan đến việc ly hôn và có trách nhiệm tống đạt các văn bản trên cho chị L.

Tại Đơn đề nghị đề ngày 22/4/2024 của cháu Nguyễn Minh P trình bày:

Cháu là con của bố Nguyễn Công T và mẹ Phạm Thị Hồng L. Khi bố mẹ ly hôn cháu xin được ở với bố là Nguyễn Công T.

Do vụ án không tiến hành hòa giải được nên đưa ra xét xử theo quy định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến, trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh Nguyễn Công T được ly hôn với chị Phạm Thị Hồng L. Giao cho anh Nguyễn Công T được trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Minh Phương, giao chị Phạm Thị Hồng L được trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Minh Cường, anh T và chị L không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về tố tụng: Anh T và chị L đều có đơn xin xử vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 28, Điều 228, Điều 238 BLTTDS năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
  2. [2] Về quan hệ hôn nhân: Anh T và chị L kết hôn với nhau hoàn toàn tự nguyện, hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, nguyên nhân chính cũng là do thời kỳ trước hôn nhân hai bên không tìm hiểu về tính cách cũng như tâm tư tình cảm của nhau, mặt khác vợ chồng lại sống xa cách nhau, mỗi người một nơi nên không có tiếng nói chung và không còn tình cảm. Vì vậy mục đích hôn nhân của anh T và chị L không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Xét hôn nhân của anh, chị chỉ còn là hình thức vì trên thực tế vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm gì đến nhau. Anh T xin ly hôn chị L là hoàn toàn có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T.
  3. [3] Về con chung: Anh T và chị L có 02 con chung là cháu Nguyễn Minh P, sinh ngày 06/06/2008, hiện đang học tập và sinh sống cùng anh T và cháu Nguyễn Minh C, sinh ngày 29/8/2022, hiện đang sinh sống tại Nhật Bản cùng chị L. Ly hôn, anh T và chị L đều có nguyện vọng giao cháu P cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu C cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, hiện tại cháu P đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng được ở với anh T. Để đảm bảo ổn định cuộc sống, môi trường học tập và đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết giao con chung như yêu cầu của anh T và nguyện vọng của chị L là phù hợp, anh T chị L không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Anh T, chị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.
  4. [4] Về tài sản chung: Anh T và chị L đều xác định không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
  5. [5]. Về án phí: Anh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 147, Điều 271, Điều 273 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự. khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; NQ 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án.

  1. 1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Công T được ly hôn chị Phạm Thị Hồng L.
  2. 2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Minh P, sinh ngày 06/06/2008 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung Nguyễn Minh C, sinh ngày 29/8/2022 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau, hai bên đều có quyền đi lại thăm nom, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản; Vấn đề thay đổi người nuôi con chung, nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung được đặt giải quyết khi có yêu cầu.
  3. 3. Về tài sản chung, nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
  4. 4. Về án phí: Anh T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng anh T đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai số 0000152 ngày 08 tháng 4 năm 2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình sang thi hành án phí.
  5. 5. Về quyền kháng cáo bản án: Anh T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Chị L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Các Đương sự;
  • - THADS tỉnh Thái Bình;
  • - UBND xã Vũ Đoài;
  • - Lưu hồ sơ vụ án,
  • - Lưu HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thế Tương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 34/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger