|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ TP ĐÀ NẴNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16 - 7 - 2024 V/v “tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hai
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Đức Hiếu
- Ông Đặng Hữu Đức
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dự - Thư ký Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ, TP. Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thu Sương - Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 133/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 85/2024/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Ngô Văn L, sinh năm: 1969.
- Bị đơn: Bà Võ Thị C (tên gọi khác Võ Thị Kim C1), sinh năm: 1967.
Địa chỉ: Số A Hồ N, tổ F, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt tại phiên tòa)
Địa chỉ: Số A Hồ N, tổ F, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 4 năm 2024 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Ngô Văn L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông kết hôn với bà Võ Thị C1 vào năm 1994, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng theo trích lục kết hôn số 157/TLKH-BS ngày 18 tháng 3 năm 2024, hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống không hạnh phúc nên năm 2006 ông làm đơn xin ly hôn bà C1, tòa án bác đơn ly hôn, từ đó ông thường xuyên đi công tác xa nhà. Khi dịch bệnh xảy ra, ông chỉ làm việc tại Đà Nẵng nên mâu thuẫn xảy ra ảnh hưởng đến tâm lý của các con, đến năm 2022 tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt trầm trọng, không còn yêu thương quý trọng, chăm sóc lẫn nhau, không ai quan tâm đến ai. Ông đã cố gắng rất nhiều để hàn gắn vợ chồng vì hạnh phúc gia đình, vì tương lai các con nhưng đến nay vẫn không có kết quả. Nay ông xác định ông không còn tình cảm gì đối với bà C1, cuộc sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn bà C1.
- Về con chung: Ông xác nhận vợ chồng ông có 02 con chung: Ngô Võ Quốc T, sinh ngày: 08/8/1996 và Ngô Võ Ô, sinh ngày: 16/9/2014. Hiện nay cháu Ngô Võ Quốc T đã trưởng thành, lập gia đình riêng và đã có cuộc sống riêng nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau ly hôn, ông xin được nuôi cháu Ngô Võ Ô không yêu cầu bà C1 cấp dưỡng nuôi con. Nếu bà C1 muốn nuôi con thì ông đồng ý, và ông không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Ông Ngô Văn L không yêu cầu giải quyết
- Về nợ chung: Ông Ngô Văn L xác nhận không có
* Đối với bị đơn bà Võ Thị C1 trình bày: Bà xác nhận về thời gian, địa điểm và điều kiện kết hôn như ông L trình bày là đúng. Trong quá trình chung sống đôi lúc vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn nhưng theo bà đó là cãi vã nhỏ nhặt và nhanh chóng bỏ qua. Thời gian gần đây chồng bà có những biểu hiện lạ xa lánh và tránh gần gũi vợ con, bà nghi ngờ chồng bà thay đổi, có người phụ nữ khác bên ngoài nhưng bà không có bằng chứng nên bà không dám khẳng định. Nay ông L xin được ly hôn, bà không đồng ý, bà mong ông L rút đơn khởi kiện vì bà con thương yêu ông L.
- Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Do bà yêu cầu được đoàn tụ nên bà không có ý kiến gì về con chung, tài sản chung, nợ chung. Nhưng trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn thì bà xin được nuôi con Ngô Võ ÔSêCa, sinh ngày: 16/9/2014, vì hiện nay con đang được bà chăm sóc nuôi dưỡng, nguyện vọng của cháu cũng muốn sống cùng mẹ, bà có đủ điều kiện để nuôi con, bà không yêu cầu ông L cấp dưỡng. Ngoài ra bà không yêu cầu gì.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
- Về tố tụng:
+ Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định từ Điều 239 đến Điều 243, Điều 247, Điều 249 đến Điều 252, Điều 258 và Điều 260 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
+ Việc chấp hành pháp luật của đương sự: Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Cụ thể bị đơn bà Võ Thị C1 không tham gia hòa giải và 02 phiên tòa theo thông báo triệu tập hợp lệ của Tòa án.
- Về việc giải quyết vụ án:
+ Căn cứ Điều 56, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận đơn khởi kiện của ông Ngô Văn L v/v Ly hôn, nuôi con đối với bà Võ Thị C1.
+ Căn cứ Điều 81, 82 Luật HNGĐ năm 2014, giao cháu Ngô Võ Ô, sinh ngày: 16/9/2014 cho bà Võ Thị C1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: bà C1 không yêu cầu cấp dưỡng.
+ Đương sự phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa ông Ngô Văn L và bà Võ Thị C1 được xác lập trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện vào năm 1994, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng (Theo trích lục kết hôn số 157/TLKH-BS ngày 18 tháng 3 năm 2024 của UBND phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng). Vì vậy, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Ngô Văn L khai rằng: Ông không còn tình cảm, không còn thương yêu gì đối với bà Võ Thị C1 vì tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, năm 2006 ông làm đơn xin ly hôn bà C1, tòa án bác đơn ly hôn, từ đó ông thường xuyên đi công tác xa nhà, hiện tại không ai quan tâm đến ai. Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn bà Võ Thị C1.
Đối với bị đơn bà Võ Thị C1 không đồng ý ly hôn, mong muốn được đoàn tụ, nhưng quá trình giải quyết vụ án, tòa án mời nhiều lần để hòa giải đoàn tụ nhưng bà C1 không đến Tòa để hòa giải. Điều này chứng tỏ bà Võ Thị C1 không muốn hàn gắn để xây dựng hạnh phúc gia đình.
Căn cứ biên bản xác minh vào ngày 28 tháng 6 năm 2024 đã được chính quyền địa phương xác nhận có nội dung: Mâu thuẫn giữa ông Ngô Văn L và bà Võ Thị C1 như thế nào địa phương không rõ, chỉ biết là ông Ngô Văn L có đi khỏi nhà một thời gian, và hiện nay đã về lại nhà.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. HĐXX xét thấy: Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ lẫn nhau cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc trong gia đình nhưng giữa ông L và bà C1 không đạt được mục đích này. Mâu thuẫn đã phát sinh từ năm 2006 và ông L đã làm đơn xin ly hôn, Tòa án đã bác đơn ly hôn, nay ông L tiếp tục làm đơn xin ly hôn bà C1. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn giữa ông L và bà C1 đã đến mức trầm trọng, không ai quan tâm đến ai, tình cảm vợ chồng không còn, làm cho cuộc hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, khả năng hàn gắn không còn nên cần áp dụng Điều 56 luật HNGĐ năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Ngô Văn L, xử cho ông Ngô Văn L được ly hôn bà Võ Thị C1.
[2] Về quan hệ con chung: Ông Ngô Văn L xác nhận vợ chồng có 02 con chung: Ngô Võ Quốc T, sinh ngày: 08/8/1996 và Ngô Võ Ô, sinh ngày: 16/9/2014. Hiện nay cháu Ngô Võ Quốc T đã trưởng thành, lập gia đình riêng và đã có cuộc sống riêng nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau ly hôn, ông xin được nuôi cháu Ngô Võ Ô1 không yêu cầu bà C1 cấp dưỡng nuôi con. Nếu bà C1 muốn nuôi con thì ông đồng ý, và ông không cấp dưỡng nuôi con.
Đối với bà C1 do yêu cầu đoàn tụ nên bà không có ý kiến gì về con chung. Tuy nhiên, nếu tòa án giải quyết cho ly hôn, bà C1 xin được nuôi con, không yêu cầu ông L cấp dưỡng.
Xét yêu cầu được nuôi con của ông L và bà C1 thì thấy: Việc nuôi dạy con là trách nhiệm và nghĩa vụ của cha mẹ. Nguyện vọng được nuôi con của ông L là chính đáng, nhưng hiện tại cháu Ngô Võ Ô, sinh ngày: 16/9/2014 đang được bà C1 chăm sóc, nuôi dưỡng, cháu Ngô Võ Ô1 có nguyện vọng được sống với mẹ, mẹ hiện có thu nhập ổn định để nuôi con. Để không làm xáo trộn cuộc sống của con, cần căn cứ vào các điều 58, 81,82,83,84 luật HNGĐ năm 2014 xử giao con Ngô Võ ÔSêCa cho bà C1 trực tiếp nuôi dưỡng.
[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà C1 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không đề cập đến.
[4] Về tài sản chung: Ông Ngô Văn L không yêu cầu giải quyết
[5] Về nợ chung: Ông Ngô Văn L xác nhận không có
[6] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm Ông Ngô Văn L phải chịu là 300.000 đồng
[7] Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Văn L, xử cho ông Ngô Văn L được ly hôn bà Võ Thị C1 và giao con chung Ngô Võ ÔSêCa, sinh ngày: 16/9/2014 cho bà Võ Thị C1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. HĐXX xét thấy đề nghị của Viện Kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng phù hợp với nhận của HĐXX nên HĐXX chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 51,55, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; các điều 147, 266, 267, 269, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Văn L đối với bà Võ Thị C1 về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Ngô Văn L được ly hôn bà Võ Thị C1.
- Về quan hệ con chung: Giao con chung Ngô Võ ÔSêCa, sinh ngày: 16/9/2014 cho Võ Thị C1 trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung: Ông Ngô Văn L không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không đề cập đến.
- Về nợ chung: Ông Ngô Văn L xác nhận không có nên HĐXX không đề cập đến.
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo: Ông L, bà C1 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Võ Thị C1 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không đề cập đến.
Bên không nuôi con được quyền đi lại, thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Khi cần thiết vì lợi ích con chung các bên có quyền làm đơn xin thay đổi nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) ông Ngô Văn L phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Ngô Văn L đã nộp theo biên lai thu số 0001506 ngày 19/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng (ông Ngô Văn L đã nộp đủ án phí).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Trương Thị Hai |
Bản án số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 16/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 34/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Ngô Văn L xin được ly hôn bà Võ Thị C
