TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI TỈNH NINH THUẬN Bản án số: 34/2024/HS-ST Ngày: 16-7-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thiên Quan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Minh Phấn – Bà Trần Thị Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vương Thị Ngọc Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận xét xử công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Bị cáo: Nguyễn Văn P, sinh ngày 01-01-1977 tại Ninh Thuận.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố F, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã A, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 0/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông: Nguyễn Văn T (Chết) và bà Phan Thị M, sinh năm 1949. Vợ, con: Không có.
Nhân thân: Ngày 08 tháng 8 năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng, chấp hành xong ngày 10-8-2020.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 13 tháng 3 năm 2024, ngày 16 tháng 3 năm 2024 tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm: 1988.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị T1, sinh năm: 1972.
Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Thành T2, sinh năm: 1997.
- Chị Phạm Thị Như Q, sinh năm: 1999.
Cùng trú tại: Thôn M, xã V, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
(Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Phiên tòa được tiến hành tại hai điểm cầu, điểm cầu trung tâm tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an huyện N.
- Tham gia tại điểm cầu trung tâm gồm có: Hội đồng xét xử, Thư ký, đại diện Viện kiểm sát và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Tham gia tại điểm cầu thành phần gồm có bị cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 10-3-2024, bị cáo Nguyễn Văn P điều khiển xe mô tô biển số 85B1-441.04 đến thôn M, xã V, huyện N để mua cây cảnh. Khoảng 18 giờ 15 phút cùng ngày, trong lúc ngồi uống nước tại quán cà phê Q, bị cáo P thấy xe mô tô biển số 85C1-585.34 của bà Nguyễn Thị Đ dựng trước quán, không ai trông coi và có cắm sẵn chìa khóa trên xe nên bị cáo P nảy sinh ý định lấy trộm tài sản bên trong cốp xe. Bị cáo P đi đến chỗ để xe, lén lút mở cốp xe và thấy có bịch nilon màu đen nên đã mở ra xem. Thấy bên trong có tiền, bị cáo P cột bịch nilon lại rồi đem giấu vào cốp xe mô tô của bị cáo rồi điều khiển xe mô tô biển số 85B1- 441.04 đi về nhà ở thôn A, xã A, huyện N và lấy bịch tiền ra đếm được 95.000.000 đồng. Bị cáo P lấy ra 17.000.000 đồng bọc trong người, còn lại 78.000.000 đồng bị cáo P giấu trong cái lu bằng gốm màu xám để ngoài vườn cây cảnh bên hông nhà. Sau khi phát hiện bị mất tài sản, bà Đ đã trình báo Công an xã V. Đến ngày 13-3-2024, bị cáo P bị Công an huyện N mời làm việc và tạm giữ số tiền 8.850.000 đồng. Đồng thời, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo P và thu giữ số tiền 78.000.000 đồng. Số tiền 95.000.000 đồng trong cốp xe của bị hại Đ là tiền của bà Phạm Thị T1, bà T1 nhờ bà Đ giữ dùm.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết số tiền 8.150.000 đồng.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo Cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 05-6-2024 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
· Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn P.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ 18 (mười tám) tháng tù đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù.
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 BLHS, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Cơ quan điều tra đã tạm giữ và trả lại cho bị hại bà Nguyễn Thị Đ tổng số tiền 86.850.000 đồng là đúng quy định của pháp luật.
- Đối với 01 xe mô tô biển số 85B1 – 441.04 mà bị cáo Nguyễn Văn P dùng vào việc phạm tội là của ông Nguyễn Văn S cho bị cáo P mượn. Ông S không biết mục đích sử dụng xe của P nên Cơ quan điều tra không xử lý là đúng pháp luật.
- Về dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn P và gia đình đã bồi thường theo thỏa thuận cho bị hại chị Nguyễn Thị Đ số tiền 8.150.000 đồng. Bị hại bà Đ không có yêu cầu gì về dân sự nên không xem xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị T1 và bị hại bà Nguyễn Thị Đ đã thỏa thuận đối xong đối với số tiền 95.000.000 đồng và không có yêu cầu gì về dân sự nên không xem xét.
Bị hại bà Nguyễn Thị Đ có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 10-3-2024, lợi dụng sơ hở của bà Nguyễn Thị Đ trong việc quản lý tài sản, bị cáo Nguyễn Văn P đã lén lút lấy trộm số tiền 95.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị Đ để trong cốp xe mô tô tại thôn M, xã V, huyện N.
Hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn P đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự; Cáo trạng số 37/CT-VKS ngày 05-7-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn P đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự ở địa phương. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo đã bồi thường toàn bộ số tiền cho bị hại; sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
[5] Trên cơ sở xem xét nguyên nhân phát sinh tội phạm, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo, áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xét xử 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không khắc phục được sai lầm mà còn tiếp tục phạm tội. Do đó cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới đủ tác dụng răn đe.
[6] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Cơ quan điều tra đã tạm giữ và trả lại cho bị hại bà Nguyễn Thị Đ tổng số tiền 86.850.000 đồng là đúng quy định của pháp luật.
- Đối với 01 xe mô tô biển số 85B1 – 441.04 mà bị cáo Nguyễn Văn P dùng vào việc phạm tội là của ông Nguyễn Văn S cho bị cáo P mượn. Ông S không biết mục đích sử dụng xe của P nên Cơ quan điều tra không xử lý là đúng pháp luật.
- Về dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn P và gia đình đã bồi thường theo thỏa thuận cho bị hại chị Nguyễn Thị Đ số tiền 8.150.000 đồng. Bị hại bà Đ không có yêu cầu gì về dân sự nên không xem xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị T1 và bị hại bà Nguyễn Thị Đ đã thỏa thuận đối xong đối với số tiền 95.000.000 đồng và không có yêu cầu gì về dân sự nên không xem xét.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn P.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 13 tháng 3 năm 2024.
Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn P số 11/2024/HSST-QĐTG ngày 16-7-2024.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (Ngày 16-7-2024). Bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thiên Quan |
Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 34/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Phương
