|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2024/HS-ST Ngày: 16-5-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Trần Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Văn Cận;
Ông Nguỵ Thanh Tuyên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Phú - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Vũ Văn D, sinh năm1980, tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do, trình độ học vấn 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn G và con bà Lâm Thị R; vợ là Phạm Thị T; có 01 con; tiền án: Ngày 29-11-2022, bị Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 22-7-2023, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 08-01-2024, chuyển tạm giam từ ngày 17-01-2024 cho đến nay; “có mặt”
Người làm chứng: Anh Phạm Văn C; “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 35 phút ngày 08-01-2024, tổ công tác Công an xã G, huyện G, tỉnh Nam Định làm nhiệm vụ tại khu vực nghĩa trang thuộc xóm T, xã G, huyện G phát hiện Vũ Văn D đang dừng xe mô tô (biển kiểm soát: 18G1-318.97) một mình tại đường dong cạnh nghĩa trang có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra hành chính, quá trình kiểm tra, tổ công tác đã thu giữ của D 02 gói giấy vở học sinh, bên trong có chất bột dạng cục màu trắng, D khai đó là H của D cất giấu với mục đích để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của D 01 xe mô tô biển kiểm soát 18G1-31897 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A03S.
Tại bản kết luận giám định số 281/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 02 (hai) gói nhỏ được gói bằng tờ giấy vở học sinh, trong phong bì thư được niêm phong kí hiệu M gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Heroin. Khối lượng mẫu M: 0,105 gam”
Tại bản Cáo trạng số 37/CT-VKSGT ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định đã truy tố Vũ Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố là đúng.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quanđiểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố Vũ Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật Hình sự; xử phạt Vũ Văn D từ 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định. Bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòabị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì; do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ của vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 10 giờ 35 phút ngày 08-01-2024, tại khu vực nghĩa trang thuộc xóm T, xã G, huyện G, Vũ Văn D đã có hành vi cất giấu trái phép 0,105 gam Heroin với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an xã G phát hiện bắt quả tang. Nhận thấy bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương; do đó hành vi của bị cáođã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nên hành vi phạm tội lần này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, do đó vị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt chính: Căn cứ các quy định của pháp luật, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, có như vậy mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời đáp ứng công tác phòng chống tội phạm nói chung.
[6] Về nguồn gốc số Heroine thu giữ của Vũ Văn D: Bị cáokhai khoảng10 giờ 20 phút, ngày 08-01-2024, D mua 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng của Phạm Văn C, sinh năm 1977, trú tại xóm T, xã G sau đó chia thành 02 gói nhỏ để sử dụng. Qúa trình điều tra, Phạm Văn C không thừa nhận hành vi bán heroin cho bị cáo, ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xử lý đối tượng đã bán ma túy cho D theo quy định của pháp luật.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng: Số Heroine hoàn trả mẫu vật sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
[9] Đối với xe mô tô biển kiểm soát 18G1-318.97 và chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Samsung Galaxy A03S màu xanh thu giữ của Vũ Văn D, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Phạm Thị T (vợ của bị cáo). Bị cáo lấy xe và điện thoại để sử dụng đi mua ma túy và liên lạc mua ma túy, chị T đều không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe và điện thoại cho chị T là phù hợp.
[10] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Vũ Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo 01 (một) năm 06 (sáu) tháng thời hạn tù tính từ ngày 08-01-2024.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì hoàn trả mẫu vật sau giám định số 281/KL-KTHS ngày 12/01/2024 của Phòng K công an tỉnh N (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng số 55/2024 lập ngày15-4-2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyệnGiao Thủy, tỉnh Nam Định).
- Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Vũ Văn D phải nộp 200.000 đồng.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thu Hiền |
Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 34/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
