Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16-4– 2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Khánh Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Ngọc Phương;
  2. Ông Đoàn Anh Minh.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

· Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thanh Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 28/2024/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1983; thường trú: E khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; tạm trú: Khu I, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1977; thường trú: E khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; chấp hành hình phạt tù: Đội 27, phân trại số 01, trại giam P, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 06/11/2023, quá trình tố tụng nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày: Bà T và ông Nguyễn Văn H tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh theo giấy chứng nhận kết hôn số 41 quyển số 1/2003 ngày 20/12/2003.

Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến khoảng năm 2018 vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do ông H phát sinh nhiều tật xấu thường xuyên tham gia đánh bài. Sự việc lên đến đỉnh điểm là vào năm 2017 ông H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác đem đi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân, đánh bài thua hết tiền, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 12 năm tù về tội trộm cắp tài sản và đang chấp hành án tại trại giam P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

Về con chung: Bà T và ông H có 02 người con chung tên Nguyễn Ngọc Bảo H1, sinh ngày 14/5/2007 và Nguyễn Văn H2, sinh ngày 27/4/2011. Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Nguyễn Ngọc Bảo H1, sinh ngày 14/5/2007, Nguyễn Văn H2, sinh ngày 24/4/2011 và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chứng cứ do nguyên đơn cung cấp gồm: Căn cước công dân của bà T, giấy chứng nhận kết hôn, giấy khai sinh con, Bản án hình sự của ông H, sổ thăm nuôi. Đơn xin vắng mặt.

Quá trình tố tụng, tại bản tự khai ngày 14/3/2024, bị đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:

Thống nhất với trình bày của nguyên đơn về thời gian, điều kiện tiến đến hôn nhân và ông H thừa nhận nguyên nhân mâu thuẫn là do ông vi phạm pháp luật và phải đi chấp hành án 12 năm tù về tội trộm cắp tài sản tại trại giam P, huyện P, tỉnh Bình Dương nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, không còn hạnh phúc. Vì vậy, bà T yêu cầu ly hôn, ông H đồng ý.

Về con chung: Sau khi ly hôn, ông H đồng ý giao 02 người con chung cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và ông H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông H thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chứng cứ do bị đơn giao nộp: Đơn xin vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về quan hệ hôn nhân, về con chung, tài sản chung và nợ chung là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn, tranh chấp về nuôi con nên quan hệ tranh chấp trong vụ án này là ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có trong vụ án thể hiện bị đơn ông Nguyễn Văn H có nơi cư trú tại E khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương và chấp hành hình phạt tù: Đội 27, phân trại số 01, trại giam P, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự tại phiên tòa theo Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông H tiến đến hôn nhân với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh theo giấy chứng nhận kết hôn số 41 quyển số 1/2003 ngày 20/12/2003 nên quan hệ hôn nhân của bà T và ông H là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, bà T và ông H xảy ra mâu thuẫn nên bà T khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn. Ông H thừa nhận vợ chồng đã xuyên xảy ra mâu thuẫn và từ năm 2018 ông H phải đi chấp hành án tại trại giam P trong vụ án hình sự về tội trộm cắp tài sản (12 năm) dẫn đến tình cảm phai nhạt, không còn hạnh phúc nên bà T yêu cầu ly hôn, ông H đồng ý. Đây là tình tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.

[3.2] Về con chung: Nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 người con chung, bị đơn đồng ý và phù hợp với nguyện vọng của 02 cháu Nguyễn Ngọc Bảo H1, sinh ngày 14/5/2007 và Nguyễn Văn H2, sinh ngày 27/4/2011 nên căn cứ Điều 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử ghi nhận.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị T về việc không yêu cầu ông Nguyễn Văn H cấp dưỡng nuôi con.

[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Từ những nhận định trên, có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị T.

[4] Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị T về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn ông Nguyễn Văn H.

· Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị T được ly hôn ông Nguyễn Văn H.

- Về con chung: Sau khi ly hôn, bà Lê Thị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Nguyễn Ngọc Bảo H1, sinh ngày 14/5/2007 và Nguyễn Văn H2, sinh ngày 27/4/2011.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị T về việc không yêu cầu ông Nguyễn Văn H cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không tranh chấp nên không giải quyết.

2. Về án phí: Bà Lê Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0001069 ngày 29 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • TAND tỉnh Bình Dương;
  • VKSND thành phố Thuận An;
  • Chi cục THADS thành phố Thuận An;
  • Các đương sự;
  • Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Khánh Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 34/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: THỦY-HẠNH: LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger