|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34 /2024/HS-ST Ngày: 16 - 4 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Chân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Phước Cường và bà Trương Thị Bích Tuyền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lý Chí Nam, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Kho Leh (Q), sinh năm 1995; nơi sinh: huyện P, tỉnh An Giang; nơi cư trú: tổ B, ấp P, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Chăm; tôn giáo: đạo Hồi; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Gia C, sinh năm 1965 và bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1957; vợ Sa Y T; con có 02 người: lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2022; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ hai (sinh ra ở huyện P - An Giang và sống thường xuyên tại T, An Giang đến nay).
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/10/2023 cho đến nay.
Người phiên dịch của bị cáo: Ông Muốt Ta P, sinh năm 1987 – Chánh Văn phòng Ban đại diện cộng đồng Hồi giáo tỉnh An Giang
Bị hại: Ông Phạm Thành T1, sinh năm 1990, nơi cư trú: tổ H, ấp M, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Su Na V, sinh năm 2012, nơi cư trú: tổ B, ấp P, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang.
Người đại diện hợp pháp của Su Na V: Y S, sinh năm 1979, nơi cư trú: tổ B, ấp P, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang.
Người làm chứng:
- - Sa Y T, sinh năm 2000;
- - G, sinh năm 1965;
- - Trần Thị Tuyết T2, sinh năm 1971;
- - Quách Thị Mỹ H1, sinh năm 1978.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu sài, khoảng 21 giờ ngày 22/10/2023, Kho Leh điều khiển xuồng máy chở Su Na V (sinh ngày 09/8/2012, em vợ Kho L) đi theo bờ sông H từ nhà K, tổ B, ấp P, xã C, thị xã T vào Kênh đào xã V, thành phố C để đánh bắt cá. Khi đến đoạn kênh tổ H, ấp M, xã V, thành phố C, thấy xuồng bằng nhựa composite có gắn máy nổ động cơ xăng hiệu Honda của Phạm Thành T1 neo đậu cặp bờ, không người trông giữ, Kho L nảy sinh ý định lấy trộm nhưng không nói V biết. Kho L điều khiển xuồng cặp vào xuồng của T1, một mình lấy kềm cộng lực có sẵn trong khoang xuồng, bước qua xuồng của T1, còn V ngồi y trên xuồng Kho Leh. Sau đó, Kho L dùng kềm cắt đứt xích buộc xuồng của T1 rồi dùng dây buộc xuồng của Kho L buộc xuồng T1 lại. Xong, Kho L điều khiển xuồng của Kho Leh kéo xuồng của T1 về neo đậu khu vực bờ sông N. Kho Leh kêu V mang số cá đánh bắt được vào nhà, còn Kho L ở lại, dùng 02 cờ lê tháo gỡ máy nổ động cơ xuồng của T1 mang cất giấu trong nhà, bị Sa Y T3 (vợ Kho L) phát hiện, khuyên ngăn Kho Leh đầu thú, giao nộp tài sản nhưng Kho L không đồng ý. Riêng T1, sau đó đến Cơ quan Công an trình báo. Đến ngày 24/10/2023, biết bị phát hiện, Kho Leh ra đầu thú, giao nộp tài sản cho Cơ quan Công an xử lý.
Vật chứng thu giữ: 01 chiếc xuồng bằng nhựa composite, sơn màu xanh, kích thước (520 × 96 × 39)cm; 01 máy nổ động cơ xăng màu trắng đỏ đen, nhãn hiệu Honda; 02 sợi dây xích bằng kim loại màu trắng; 01 ổ khóa kim loại màu trắng (đã trao trả cho bị hại Phạm Thành T1); 01 chiếc xuồng composite màu xanh dương, viền màu trắng, dọc hai bên thân vỏ có đường viền màu đỏ, kích thước (490 × 86 × 32)cm, đuôi xuồng có máy nổ động cơ xăng, nhãn hiệu Mitsuyama 6.5HP; 01 cây kềm cộng lực màu vàng; 02 cờ lê bằng inox; 01 áo thun dài tay màu đen; 01 cái quần thun lửng màu xám; 01 áo thun ngắn tay màu xanh; 01 áo thun ngắn tay kiểu cổ lặt màu xanh; 01 quần thun dài màu đen (bàn giao Cơ quan Thi hành án dân sự); 01 đĩa DVD lưu trữ 01 đoạn video ghi nhận hình ảnh Kho Leh lấy trộm xuồng máy của Phạm Thành T1.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 740/KL-ĐG ngày 25/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, ghi nhận: 01 chiếc xuồng bằng nhựa composite, sơn màu xanh, kích thước (520 × 96 × 39), trị giá 4.500.000 đồng; 01 máy nổ động cơ xăng màu trắng đỏ đen, nhãn hiệu Honda, trị giá 3.000.000 đồng. Tổng cộng 7.500.000 đồng.
Ngày 02/11/2023 Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố C ban hành các Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Kho L.
Cáo trạng số: 19/CT-VKSCĐ-HS ngày 19/02/2024 của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo Kho L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Kho L khai nhận để có tiền tiêu sài, bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại T1 như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Bị hại T1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường, xin xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội:
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Kho L từ 09 tháng đến 01 năm tù.
Về hình phạt bổ sung, do bị cáo không có nghề nghiệp nên đề nghị không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- - 01 chiếc xuồng bằng nhựa composite, sơn màu xanh, kích thước (520 × 96 × 39)cm; 01 máy nổ động cơ xăng màu trắng đỏ đen, nhãn hiệu Honda; 02 sợi dây xích bằng kim loại màu trắng; 01 ổ khóa kim loại màu trắng (đã trao trả cho bị hại Phạm Thành T1); không đề cập xem xét giải quyết.
- - 01 chiếc xuồng composite màu xanh dương, viền màu trắng, dọc hai bên thân vỏ có đường viền màu đỏ, kích thước (490 × 86 × 32)cm, đuôi xuồng có máy nổ động cơ xăng, nhãn hiệu Mitsuyama 6.5HP; bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội, xét tịch thu sung vao Ngân sách Nhà nước.
- - 01 áo thun dài tay màu đen; 01 cái quần thun lửng màu xám; 01 áo thun ngắn tay màu xanh; 01 áo thun ngắn tay kiểu cổ lặt màu xanh; 01 quần thun dài màu đen; 01 cây kềm cộng lực màu vàng; 02 cờ lê bằng inox đây là công trang phục bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng, xét tịch thu tiêu hủy
- - Tiếp tục lưu 01 đĩa DVD lưu trữ 01 đoạn video ghi nhận hình ảnh Kho Leh lấy trộm xuồng máy của Phạm Thành T1.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại T1 không yêu cầu bị cáo bồi thường do đã nhận lại tài sản.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo là người dân tộc Chăm, hiểu và biết được tiếng Việt, tại phiên tòa cũng như trước quá trình điều tra không yêu cầu người phiên dịch.
[2] Sự vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quyết định vẫn tiến hành xét xử.
[3] Về hành vi phạm tội
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi lén lút trộm cắp của bị hại T1 01 chiếc xuồng bằng nhựa composite, sơn màu xanh, kích thước (520 × 96 × 39); 01 máy nổ động cơ xăng màu trắng đỏ đen, nhãn hiệu Honda, theo Kết luận định giá tài sản số 740/KL-ĐG ngày 25/10/2023 tổng trị giá là 7.500.000 đồng. Khi bị cáo thực hiện hành vi trộm tuy có V đi cùng nhưng V không biết bị cáo lấy trộm
Đối chiếu lời khai nhận hành vi của bị cáo tại phiên tòa với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng các biên bản xác minh, biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác được cơ quan điều tra thu thập, có căn cứ xác định: Kho L đã có hành vi trộm cắp tài sản của Phạm Thành T1, trị giá 7.500.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Về tính chất vụ án
Xét thấy, quyền sở hữu tài sản là một trong những quyền được pháp luật ghi nhận và bảo vệ, những ai xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất là hình phạt.
Bị cáo là người trưởng thành, có khả năng lao động, đáng lẽ, bị cáo phải tìm cho mình một công việc phù hợp để nuôi sống bản thân, gia đình nhưng vì lười lao động, đã gây thiệt hại cho chủ sở hữu tài sản.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xem thường pháp luật, cần có hình phạt tương xứng, cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Cần xem xét cho bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, thuộc thành phần lao động, trình độ học vấn thấp, người dân tộc, nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Tại phiên tòa, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
- - Đối với 01 chiếc xuồng bằng nhựa composite, sơn màu xanh, kích thước (520 × 96 × 39); 01 máy nổ động cơ xăng màu trắng đỏ đen, nhãn hiệu Honda;. Tất cả đã qua sử dụng, đã trao trả cho bị hại Phạm Thành T1, nên không đề cập giải quyết;
- - Đối với 01 chiếc xuồng composite màu xanh dương, viền màu trắng, dọc hai bên thân vỏ có đường viền màu đỏ, kích thước (490 × 86 × 32)cm, đuôi xuồng có máy nổ động cơ xăng, nhãn hiệu Mitsuyama 6.5HP là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, xét tịch thu sung vào Ngân sách Nhà Nước;
- - Đối với 01 cây kềm cộng lực màu vàng; 02 cờ lê bằng inox; 01 áo thun dài tay màu đen; 01 cái quần thun lửng màu xám; 01 áo thun ngắn tay màu xanh; 01 áo thun ngắn tay kiểu cổ lặt màu xanh; 01 quần thun dài màu đen, là công cụ và trang phục sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng, xét tịch thu tiêu hủy;
- - Đối với 01 đĩa DVD lưu trữ 01 đoạn video ghi nhận hình ảnh Kho Leh lấy trộm xuồng máy của Phạm Thành T1, có giá trị chứng minh tội phạm, xét lưu hồ sơ vụ án.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản trộm, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề cập xem xét giải quyết.
[9] Vấn đề khác: Đối với Su Na V, bị cáo đi cùng Su Na V (sinh ngày 09/8/2012, là người dưới 14 tuổi) nhưng khi thực hiện hành vi trộm cắp xuồng của Phạm Thành T1, bị cáo thực hiện một mình, không rủ rê, xúi giục Su Na V cùng thực hiện; Su Na V cũng không giúp bị cáo trong việc lấy trộm xuồng nên Cơ quan điều tra không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và không xử lý đối với Su Na V là phù hợp.
[10] Về án phí: Bị cáo Kho L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[11] Quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Kho L phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Xử phạt: Kho Leh 07 (bảy) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 24/10/2023 (Ngày hai mươi bốn tháng mười năm hai nghìn không trăm hai mươi ba).
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
- - Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 chiếc xuồng composite màu xanh dương, viền màu trắng, dọc hai bên thân vỏ có đường viền màu đỏ, kích thước (490 × 86 × 32)cm, đuôi xuồng có máy nổ động cơ xăng, nhãn hiệu Mitsuyama 6.5HP;
- - Tịch thu tiêu hủy 01 cây kềm cộng lực màu vàng; 02 cờ lê bằng inox; 01 cái quần thun lửng màu xám; 01 áo thun ngắn tay màu xanh; 01 áo thun ngắn tay kiểu cổ lặt màu xanh; 01 quần thun dài màu đen.
- (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15 tháng 4 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).
- - Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD lưu trữ 01 đoạn video ghi nhận hình ảnh Kho Leh lấy trộm xuồng máy của Phạm Thành T1.
3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Kho L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Nguyễn Quang Chân |
Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 34/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Kho Leh phạm tội Trộm cắp Tài sản
