TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2024/HS-ST.
Ngày: 14 - 9 - 2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Hoàng Điệt.
Ông Huỳnh Văn Miên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Tiến –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú,
tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên
tòa: Ông Trần Minh Tôn – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Trường mầm non xã M xét xử sơ thẩm lưu động, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lưu Trường G (Tên gọi khác: K); sinh ngày 21/6/2001; nơi sinh: Tại huyện M, tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: Ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn T, năm sinh 1976 (sống) và bà Trần Thị Cẩm L, sinh năm 1979 (sống); tiền án: Không; tiền sự: Ngày 22/01/2021, bị Tòa án nhân dân (TAND) quận B, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 87/2021/QĐ-TA, ngày 22/01/2021 của TAND quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh thời hạn 24 tháng (chấp hành xong ngày 24/10/2022) và ngày 13/7/2023, bị TAND huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 09/QĐ-TA, ngày 13/7/2023 của TAND huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng thời hạn 24 tháng (chưa chấp hành); bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 21/3/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay (có mặt).
2. Họ và tên: Nguyễn Văn Đ; sinh ngày 11/11/2003; nơi sinh: Tại huyện G, tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N, chưa rõ năm sinh và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1974 (sống); tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 21/3/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay (có mặt).
3. Họ và tên: Phạm Tuấn V; sinh ngày 05/7/2005; nơi sinh: Tại huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp T, xã L, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Tuấn E, năm sinh 1981 (sống) và bà Lê Thị Trúc P, sinh năm 1981 (sống); tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 21/3/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Bùi Quốc K1 (V1), sinh ngày 19/12/2001; nơi cư trú: Ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt vì có đơn xin xét xử vắng mặt).
Ông Hàng Tấn T2, sinh ngày 01/01/1958; nơi cư trú: Ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt vì có đơn xin xét xử vắng mặt).
Ông Trần Thị Cẩm L, sinh ngày 31/5/1979; nơi cư trú: Ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Người làm chứng:
Ông Hàng Công T3, sinh ngày 01/01/1991; nơi cư trú: Ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt vì có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 20/3/2024, Nguyễn Văn Đ, Lưu Trường G và Phạm Tuấn V đã cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 20/3/2024, Nguyễn Văn Đ điện thoại cho Lưu Trường G kêu G tìm chỗ mua ma túy về sử dụng thì G đồng ý. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô đi từ lò bún Chín Đủ (do ông H Công Thức làm chủ, nơi Đúng đang làm thuê) thuộc ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng đến nhà của G và đưa cho G 300.000 đồng để mua ma túy, rồi chạy xe quay ngược trở lại lò bún Chín Đủ. Lúc này, G điện thoại cho N1 (không rõ họ tên, địa chỉ) để mua 300.000 đồng ma túy. Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, G gặp N1 lấy ma túy, khi lấy xong G điện thoại cho Đ nói mua ma túy được rồi, nghe vậy Đ điều khiển xe chạy đến nhà G và chở G đến căn nhà cũ của G thuộc ấp T, xã M, huyện M, Sóc Trăng để cùng nhau sử dụng ma túy. Khi đến địa điểm nêu trên, G lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đã chuẩn bị trước đó ra và để ma túy vào trong ống thủy tinh (nỏ, cái nồi) rồi đốt lên cho cả hai cùng sử dụng. Sau khi sử dụng hết ma túy, G và Đ đi về.
Lần thứ hai: Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 20/3/2024, Nguyễn Văn Đ điều khiển xe mô tô chở Bùi Quốc K1 (tên gọi khác là V1), đến nhà của Lưu Trường G chơi. Thấy K1 đến, G hỏi mượn điện thoại của K1 để sử dụng thì K1 đồng ý, khoảng 10 phút sau K1 lấy chiếc xe mà G đã mượn trước đó chạy về trước. Lúc này, G rủ Đ mua ma túy về sử dụng thì Đ đồng ý, nhưng do không có tiền nên Đ nói “nếu chơi thì hùn tiền”, thấy vậy G liên lạc với Phạm Tuấn V rủ V hùn tiền mua ma túy về sử dụng thì V đồng ý. Sau đó, V dùng điện thoại chuyển 100.000 đồng vào tài khoản của Đúng thông qua ứng dụng M, Đ dùng điện thoại chuyển 200.000 đồng cho G thông qua ứng dụng Momo (trong đó: 100.000 đồng là của Đ và 100.000 đồng là của V). Khi nhận tiền do Đ chuyển, G hùn thêm 100.000 đồng và điện thoại cho N1 (không rõ họ tên, địa chỉ) để mua 300.000 đồng ma túy đá và 01 cái nồi (tức là ống thủy tỉnh dùng để sử dụng ma túy) với giá 50.000 đồng, G hẹn N1 sáng hôm sau trả tiền, đồng thời yêu cầu N1 đem ma túy đến trước cửa rào lò bún Chín Đủ. Đến khoảng 22 giờ, Đ điều khiển xe chạy về lò bún Chín Đủ, khi Đ về được khoảng 30 phút, N1 gọi cho G để thông báo đã giao ma túy xong. Lúc này, V điều khiển xe từ thành phố S về ghé vào nhà của G và chở G đến lò bún Chín Đủ. Trên đường đi, G có mượn điện thoại của V để gọi cho Đ nhưng Đ không nghe máy. Một lúc sau, Đ gọi lại cho G thì G hỏi Đ: “Chơi xong chưa, xong rồi cho lấy cái nồi về chơi”, Đ trả lời “chơi xong rồi, lên lấy đi”. Khi đến lò bún Chín Đ1, G và V được Đúng dẫn đến giường ngủ của Đ, lúc này G và V thấy bộ D sử dụng ma túy đã có sẵn ma túy trong ống thủy tinh (nỏ) mà Đ đã làm và sử dụng trước đó nên G và V thay phiên nhau hút ma túy. Khi cả hai đang hút ma túy thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Tại Kết luận giám định số 43/KLMT-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh S, kết luận: Mẫu chất rắn màu trắng - vàng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,0563 gam (không phẩy không năm sáu ba gam, không kể bao bì), loại Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số 32/CT-VKSMT ngày 05/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Lưu Trường G, bị cáo Nguyễn Văn Đ về Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và bị cáo Phạm Tuấn V về Tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo Lưu Trường G, Nguyễn Văn Đ và Phạm Tuấn V về Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điều luật như trên và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lưu Trường G, bị cáo Nguyễn Văn Đ và bị cáo Phạm Tuấn V phạm Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điều 50; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Lưu Trường G (K) từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.
Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điều 50; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) năm tù.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Phạm Tuấn V từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) chai nhựa, loại chai nước suối màu trắng có chứa nước trong suốt; 01 (một) cái nỏ thủy tinh bên trong có chứa tinh thể rắn màu vàng, qua giám định là ma túy, loại Methamphetamine (khối lượng còn lại sau giám định là 0,0484 gam); 01 (một) đoạn ống hút màu cam, 06 (sáu) đoạn ống hút màu trắng; 05 (năm) cái bật lửa đã qua sử dụng, bị hỏng; 02 (hai) nắp chai nhựa đã khoét lỗ; 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng; 01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng, màu xanh hiệu Vsmart, bị hỏng không hoạt động được của Nguyễn Văn Đ.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A13 màu xanh nhạt của Phạm Tuấn V.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra huyện M, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Bùi Quốc K1 (V1), ông Hàng Tấn T2 và người làm chứng ông Hàng Công T3. Xét thấy, ông Bùi Quốc K1 (V1), ông Hàng Tấn T2 và ông H Công Thức vắng mặt vì có đơn xin giải quyết vắng mặt. Sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo, bà Trần Thị Cẩm L không yêu cầu hoãn phiên tòa. Căn cứ vào Điều 292, Điều 293 và Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
[3] Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai rõ hành vi phạm tội của mình như tại cơ quan Điều tra, lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Hiện trường vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; bản kết luận giám định số: 43/KLMT-KTHS ngày 29/3/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh S, vật chứng của vụ án và phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cụ thể: Vào ngày 20/3/2024, bị cáo Nguyễn Văn Đ, Lưu Trường G (K) và Phạm Tuấn V đã cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể: Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 20/3/2024, bị cáo Lưu Trường G (K) và Nguyễn Văn Đ đã cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại căn nhà cũ của G thuộc ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 20/3/2024, bị cáo Lưu Trường G (K), Nguyễn Văn Đ, Phạm Tuấn V đã cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại lò bún Chín Đủ thuộc ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Do đó, hành vi của bị cáo Lưu Trường G (K), Nguyễn Văn Đ đã phạm vào Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và hành vi của bị cáo Phạm Tuấn V đã phạm vào Tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Do đó, Cáo trạng số 32/CT-VKSMT ngày 05/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Lưu Trường G (K), Nguyễn Văn Đ về Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Phạm Tuấn V, về Tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý. Vì các bị cáo biết rõ chất ma tuý là chất kích thích và gây ức chế hệ thần kinh, nếu sử dụng nhiều lần sẽ gây nghiện và một khi đã nghiện chất ma tuý thì người đó sẽ có nhiều khả năng gây ra nhiều tệ nạn xã hội như bị lây truyền bệnh HIV, trộm cắp, cướp giật tài sản..., làm ảnh hưởng tình hình trật tự, an toàn tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Chính vì vậy mà Nhà nước đã nghiêm cấm các hành vi tàng trữ, mua bán, tổ chức, sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng các bị cáo vẫn bất chấp tác hại của ma túy mà vẫn lao vào con đường nghiện ngập, cụ thể các bị cáo đã thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tội phạm của các bị cáo đã hoàn thành.
Hành vi do các bị cáo thực hiện là hành vi nguy hiểm cho xã hội, nó đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý; xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức hình phạt thật nghiêm khắc để các bị cáo có thời gian tâm đắc sửa chữa lỗi lầm, cải tạo thành công dân tốt có ích cho xã hội.
Tuy nhiên, khi thực hiện hành vi phạm tội giữa các bị cáo Lưu Trường G, bị cáo Nguyễn Văn Đ và bị cáo Phạm Tuấn V mặc dù cùng nhau thống nhất thực hiện hành vi phạm tội nhưng giữa các bị cáo không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ, không phân công vai trò cụ thể của từng người nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn.
[6] Để cá thể hóa hình phạt đối với bị cáo Lưu Trường G, bị cáo Nguyễn Văn Đ, bị cáo Phạm Tuấn V và đánh giá về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo, Hội đồng xét xử phân tích, đánh giá hành vi phạm tội của từng bị cáo như sau:
Đối với bị cáo Lưu Trường G (K): Là người giữ vai trò chính trong vụ án vì trong lần phạm tội thứ nhất, bị cáo là người cung cấp địa điểm, chuẩn bị bộ dụng cụ để cùng với bị cáo Nguyễn Văn Đ tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại căn nhà cũ của bị cáo; trong lần phạm tội thứ hai, bị cáo là người khởi xướng, rủ rê Nguyễn Văn Đ, Phạm Tuấn V cùng với bị cáo hùn tiền mỗi người 100.000 đồng để mua ma túy về sử dụng tại lò bún Chín Đủ; đồng thời trong cả hai lần phạm tội bị cáo là người trực tiếp liên hệ với đối tượng tên N1 để mua ma túy về cho cả nhóm sử dụng cho nên cần có hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo. Mặt khác, bị cáo có hai tiền sự cụ thể: Ngày 22/01/2021, bị TAND quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 87/2021/QĐ-TA, ngày 22/01/2021 của TAND quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh thời hạn 24 tháng (chấp hành xong ngày 24/10/2022) và ngày 13/7/2023, bị TAND huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 09/QĐ-TA, ngày 13/7/2023 của TAND huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng thời hạn 24 tháng (chưa chấp hành) nhưng bị cáo vẫn tiếp tục phạm tội. Tuy nhiên, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự thú khai ra những lần phạm tội trước đó. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ: Là người giữ vai trò rủ rê, khởi sướng và là người thực hành trong vụ án, cụ thể trong lần phạm tội thứ nhất, bị cáo là người khởi xướng, rủ rê và điều khiển xe chở G đến căn nhà cũ của G để sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời bị cáo cũng là người cung cấp ma túy thông qua việc đưa 300.000 đồng cho bị cáo G mua ma túy về để cả hai cùng sử dụng; trong lần phạm tội thứ hai, bị cáo là người hùn 100.000 đồng cùng với G và V để mua ma túy về sử dụng, đồng thời bị cáo cũng là người chuẩn bị bộ dụng cụ để cho cả nhóm sử dụng ma túy tại lò bún Chín Đủ (nơi bị cáo đang làm thuê) cho nên cần có hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; không có tiền án, tiền sự; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự thú khai ra những lần phạm tội trước đó. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ.
Đối với bị cáo Phạm Tuấn V: Giữ vai trò là người thực hành tích cực trong vụ án, khi được bị cáo G rủ bị cáo sử dụng ma tuý, bị cáo đồng ý ngay và bị cáo là người hùn 100.000 đồng cùng với Đ và G để mua ma túy về sử dụng, đồng thời bị cáo cũng là người điều khiển xe chở G đến lò bún Chín Đủ để cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nên cần có hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; không có tiền án, tiền sự; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ.
[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) chai nhựa, loại chai nước suối màu trắng có chứa nước trong suốt; 01 (một) cái nỏ thủy tinh bên trong có chứa tinh thể rắn màu vàng, qua giám định là ma túy, loại Methamphetamine (khối lượng còn lại sau giám định là 0,0484 gam); 01 (một) đoạn ống hút màu cam, 06 (sáu) đoạn ống hút màu trắng; 05 (năm) cái bật lửa đã qua sử dụng, bị hỏng; 02 (hai) nắp chai nhựa đã khoét lỗ; 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng; 01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng, màu xanh hiệu Vsmart, bị hỏng không hoạt động được của Nguyễn Văn Đ.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A13 màu xanh nhạt của Phạm Tuấn V.
[8] Đối với đối tượng tên Nghĩa là người bán ma túy cho Lưu Trường G, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M tiếp tục xác minh làm rõ nếu có căn cứ sẽ xem xét xử lý sau là có căn cứ.
[9] Đối với ông Hàng Tấn T2 (là chủ lò bún Chín Đủ), quá trình điều tra đã xác định ông T2 không đứng ra tổ chức cũng như không biết các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại lò bún của mình nên không đặt ra xem xét là có căn cứ.
[10] Đối với bà Trần Thị Cẩm L là người quản lý, sử dụng căn nhà cũ thuộc ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng nơi G và Đ cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, quá trình điều tra đã xác định bà L không đứng ra tổ chức cũng như không biết các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại căn nhà cũ của mình nên không đặt ra xem xét là có căn cứ.
[11] Đối với Bùi Quốc K1, quá trình điều tra đã xác định K1 không biết việc G sử dụng điện thoại của mình để liên hệ với N1 mua ma túy nên không đặt ra xem xét là có căn cứ.
[12] Về án phí: Các bị cáo Lưu Trường G, Phạm Tuấn V, Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[13] Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, về hình phạt, việc áp dụng pháp luật, xử lý vật chứng như đã phân tích nêu trên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Lưu Trường G, bị cáo Nguyễn Văn Đ và bị cáo Phạm Tuấn V phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.
1. Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điều 50; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lưu Trường G (K).
Xử phạt bị cáo Lưu Trường G (K) 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/3/2024.
2. Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điều 50; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/3/2024.
3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Phạm Tuấn V.
Xử phạt bị cáo Phạm Tuấn V 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/3/2024.
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) chai nhựa, loại chai nước suối màu trắng có chứa nước trong suốt; 01 (một) cái nỏ thủy tinh bên trong có chứa tinh thể rắn màu vàng, qua giám định là ma túy, loại Methamphetamine (khối lượng còn lại sau giám định là 0,0484 gam); 01 (một) đoạn ống hút màu cam, 06 (sáu) đoạn ống hút màu trắng; 05 (năm) cái bật lửa đã qua sử dụng, bị hỏng; 02 (hai) nắp chai nhựa đã khoét lỗ; 01 (một) cây kéo bằng kim loại màu trắng; 01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng, màu xanh hiệu Vsmart, bị hỏng không hoạt động được của Nguyễn Văn Đ.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A13 màu xanh nhạt của Phạm Tuấn V.
5. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Buộc bị cáo Lưu Trường G (K); bị cáo Nguyễn Văn Đ và bị cáo Phạm Tuấn V mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
6. Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Thanh Hoa |
Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 14/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 34/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ma tuý
