Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN ĐỀ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/DS-ST

Ngày: 14 – 6 – 2024.

“V/v tranh chấp: Hợp đồng mua bán tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Huy Tùng.
  2. Bà Hà Ngân Kim Tới.

 - Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 53/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

 - Nguyên đơn: Ông Trần Đại H, sinh năm 1973 (Vắng mặt).

Là người đại diện theo pháp luật của Hộ kinh doanh Đại lý T.

Địa chỉ liên hệ: Số C, khóm T, phường K, thị xã V, tỉnh S.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đỗ Thị Mai C, sinh năm 1997 (Theo văn bản ủy quyền ngày 10/01/2024) (Có mặt).

Địa chỉ liên hệ: Số C, khóm T, phường K, thị xã V, tỉnh S.

 - Bị đơn:

  1. Ông Lưu H1, sinh năm 1962 (Vắng mặt).
  2. Bà Nguyễn Thị Tuyết L, sinh năm 1972 (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp S, thị trấn L, huyện T, tỉnh S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết án cũng như tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn bà Đỗ Thị Mai C trình bày:

Trước đây năm 2017, bên ông Trần Đại H có thực hiện mua bán thức ăn và thuốc thủy sản với ông Lưu H1 và bà Nguyễn Thị Tuyết L, giao kết thông qua lời nói mà không lập thành văn văn bản, sau đó để củng cố hồ sơ ông H có lập hợp đồng mua bán ngày 06/02/2020 và ngày 01/5/2021. Bên cạnh đó ông H giao dịch thông qua sổ giao nhận hàng ghi tên “Chị Tuyết L”.

Theo thỏa thuận, bắt đầu từ 01/9/2017 bên ông H bán thức ăn và thuốc thủy sản cho ông H1 và bà L. Hàng hóa được nhân viên giao hàng chở tận nơi hay ông H1 và bà L hoặc người nhà đến lấy hàng tại kho của ông H. Ông H1 và bà L tiến hành kiểm tra và ký bản đối chiếu xác nhận công nợ khi ông H yêu cầu. Cuối vụ thu hoạch tôm, ông H1 và bà L phải thanh toán hết tiền hàng. Trường hợp xét thấy công nợ cao, ông H1 và bà L vẫn không thanh toán tiền hàng, ông H có quyền cắt hàng và đề nghị ông, bà thanh toán hết số tiền hàng còn nợ. Thời điểm cắt hàng được xem là thời điểm chấm dứt giao dịch.

Trong quá trình thực hiện giao dịch, ông H đã cung cấp hàng hóa đúng theo yêu cầu đặt hàng của ông H1 và bà L. Sau khi nhận hàng ông H1 và bà L không hề phàn nàn hay có khiếu nại gì về số lượng, chất lượng, chủng loại hàng hóa mà bên ông H đã giao. Mặc dù ông H thực hiện đúng thỏa thuận hợp đồng, nhưng ông H1 và bà L đã không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán, đến cuối vụ tôm ông H1 và bà L không thanh toán hết tiền hàng cho ông H.

Đến khi công nợ đã lên đến 209.678.000 đồng (Hai trăm lẻ chín triệu sáu trăm bảy mươi tám nghìn đồng) thì phía Ông H1 và bà L chỉ ký các bảng đối chiếu công nợ ngày 26/10/2019 khi ông H yêu cầu và hứa hẹn nhưng không thanh toán thêm. Mặc dù ông H đã nhiều lần cử nhân viên gọi điện và đến nhà yêu cầu ông H1 và bà L trả tiền hàng còn nợ nhưng đến nay ông H1 và bà L vẫn cố tình không thanh toán. Hành vi cố tình không trả nợ của ông H1 và bà L đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông H.

Nay ông Trần Đại H yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc ông Lưu H1 và bà Nguyễn Thị Tuyết L có trách nhiệm liên đới trả cho ông số tiền nợ gốc là 222.834.000 đồng (Hai trăm hai mươi hai triệu, tám trăm ba mươi bốn nghìn đồng). Không yêu cầu tính lãi (có sự thay đổi so với đơn khởi kiện ban đầu).

Bị đơn, ông Lưu H1, bà Nguyễn Thị Tuyết L không có lời trình bày do vắng mặt:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo thụ lý số 53/TB-TLVA ngày 19 tháng 3 năm 2024, tống đạt hợp lệ cho bị đơn vợ chồng ông Lưu H1, bà Nguyễn Thị Tuyết L nhưng các bị đơn không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ hai lần đối với các bị đơn để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các bị đơn đều vắng mặt không có lý do. Tòa án đã lập biên bản về việc vắng mặt của các bị đơn, không tiến hành hòa giải được và các bị đơn cũng không có lời khai trong hồ sơ vụ án. Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

 - Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp Hợp đồng mua bán tài sản".

 - Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn vắng mặt (có người đại diện), các bị đơn ông Lưu H1 và bà Nguyễn Thị Tuyết L mặc dù đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do. Do đó căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

[2] Về nội dung vụ án:

 - Xét về hình thức và nội dung của hợp đồng mua bán tài sản giữa ông Trần Đại H với vợ chồng ông Lưu H1, bà Nguyễn Thị Tuyết L là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 430 Bộ luật dân sự.

 - Xét về quá trình thực hiện hợp đồng: Quá trình mua bán Hộ kinh doanh đại lý T do ông Trần Đại H làm chủ có lập sổ theo dõi giao nhận hàng và vợ chồng ông H1, bà L có ký tên vào sổ theo dõi giao nhận hàng và đối chiếu công nợ. Tính đến ngày 26/10/2019, vợ chồng ông H1, bà L thừa nhận còn nợ ông H với số tiền là 222.834.000 đồng (Hai trăm hai mươi hai triệu, tám trăm ba mươi bốn nghìn đồng).

[3] Qua những lời trình bày của đương sự cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Vợ chồng ông Lưu H1, bà Nguyễn Thị Tuyết L có mua các loại thức ăn và thuốc thủy sản của ông Trần Đại H. Quá trình mua bán, sau khi đối chiếu công nợ thì vợ chồng ông H1, bà L còn nợ số tiền 222.834.000 đồng (Hai trăm hai mươi hai triệu, tám trăm ba mươi bốn nghìn đồng). Như vậy vợ chồng ông H1, bà L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán được quy định tại Điều 440 Bộ luật dân sự. Do đó ông H yêu cầu vợ chồng ông H1, bà L phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền còn nợ là có căn cứ.

[4] Về lãi suất chậm trả: Do đại diện nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 430, Điều 440, Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  2. Buộc vợ chồng ông Lưu H1, bà Nguyễn Thị Tuyết L có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho ông Trần Đại H số tiền còn nợ là 222.834.000 đồng (Hai trăm hai mươi hai triệu, tám trăm ba mươi bốn nghìn đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông Trần Đại H cho đến khi thi hành án xong mà vợ chồng ông H1, bà L chậm trả tiền thì còn phải liên đới trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • Vợ chồng ông Lưu H1, bà Nguyễn Thị Tuyết L phải liên đới nộp 11.141.700đ (Mười một triệu, một trăm bốn mươi mốt nghìn, bảy trăm đồng) tiền án phí.
    • Ông Trần Đại H không phải chịu án phí. Ông H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 6.267.000₫ (Sáu triệu, hai trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002430 ngày 14/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

Các đương sự có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng người vắng mặt được tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Trần Đề;
  • - Chi cục THA huyện Trần Đề;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng (P.KTNV&THA);
  • - Các đương sự.
  • - Lưu HSVA.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nguyễn Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/DS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

  • Số bản án: 34/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng mua bán tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông H yêu cầu ông H1 trả số tiền nợ 222.834.000 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger