|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2024/HS-ST
Ngày 14-5-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Lệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông K’Đào và ông Nguyễn Xuân Hinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thùy Lương – Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Tạ Quí H, sinh ngày 14-7-1984 tại Lâm Đồng; Căn cước công dân số [...]. Nơi cư trú: Thôn C, xã L, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: không có nghề nghiệp ổn định; Trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Văn M và bà Phạm Thị H1; Tiền sự: Ngày 21-4-2023 bị Công an huyện D xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; Tiền án: Tại bản án số 67/2022/HSST ngày 11-8-2022 của TAND huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng và Bản án số 139/2022/HSPT ngày 06-12-2022 của TAND tỉnh Lâm Đồng xử phạt 09 tháng tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”, chấp hành xong ngày 19-9-2023; Nhân thân: Tại bản án số 69/2013/HSST ngày 27-9-2013 của TAND huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”; Tại Bản án số 14/2016/HSST ngày 29-3-2016 bị TAND huyện Di Linh xử phạt 24 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18-01-2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
2. Nguyễn Thành Đ (tên khác: Nhỏ), sinh ngày 19-3-1986 tại Lâm Đồng; Căn cước công dân số [...]. Nơi cư trú: Số E, Xóm C, Thôn G, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: không có nghề nghiệp ổn định; Trình độ văn hoá (học vấn): 3/12; Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành N và bà Nguyễn Thị H2; Tiền sự: Không; Tiền án: Tại Bản án số 67/2022/HSST ngày 11-8-2022 của TAND huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 06 tháng tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”, chấp hành xong ngày 04-4-2023; Nhân thân: Bản án số 78/2009/HSST ngày 14-12-2009 bị TAND huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, xử phạt 06 năm tù, về tội “Cướp tài sản”. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18-01-2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện D. Có mặt.
- Bị hại: Ông Sỳ Nhì D, sinh năm 1972. Địa chỉ: Số nhà A, Xóm D, Thôn C, xã L, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Công T, sinh năm 1982. Địa chỉ: Số F, thôn T, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
2. Ông Nguyễn Anh D1, sinh năm 1987. Địa chỉ: Thôn D, xã L, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ ngày 17-01-2024, Tạ Quí H và Nguyễn Thành Đ đi tới chòi coi vườn cà phê của ông Sỳ Nhì D để sử dụng ma túy thì Đ phát hiện phía bên hông chòi cà phê của ông D có một máy bơm loại bơm hỏa tiễn dưới giếng, H và Đ bàn nhau trộm cắp máy bơm bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Sau đó, H và Đ mở nắp giếng lên, dùng tay quay có sẵn kéo máy bơm lên khỏi giếng nước và dùng một con dao cắt làm đứt dây điện, H giữ cần quay, Đ cắt dây điện. Sau đó cả hai đem dây điện (tổng chiều dài là 72,21m) đem bán tại tiệm phế liệu của ông Nguyễn Công T được số tiền là 525.000 đồng. Sau khi bán xong dây điện, H và Đ quay về hướng xã L thì H thấy xe ba gác của ông Nguyễn Anh D1 đậu ven đường, H lấy số điện thoại ghi ở thùng xe gọi cho ông D1 nhờ ông D1 đi đến vườn cà phê ông D để chở máy nổ. Sau đó H và Đ hướng dẫn chỉ đường cho ông D1 đi vào vườn. Khi D1 điều khiển xe ba gác đến thì H và Đ đưa máy bơm lên trên thùng xe chở đến thôn T, xã Đ và nói khi đến sẽ trả tiền xe. Sau đó, H và Đ đi xe mô tô của H đến tiệm phế liệu của ông Nguyễn Công T chờ ông D1 đến với mục đích là bán máy bơm vừa trộm cắp được tại đây. Khi ông D1 điều khiển xe tới thì H và Đ bị cơ quan Công an phát hiện triệu tập về làm việc.
Vật chứng thu giữ: 01 máy bơm loại bơm hỏa tiễn; 08 cuộn dây điện chiều dài 72,21m, có đặc điểm là cuộn màu đen, bên trong có 03 lõi bằng đồng, trên thân vỏ dây có kí hiệu 1430M- Dây cáp chuyên dùng ngành bơm – TCCS022015-DCCU Japan – cáp 3x6 16518; 01 con dao; số tiền 318.000 đồng là tiền bán dây điện, đối với những vật chứng này cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông D và ông T; Thu giữ 01 áo khoác tại hiện trường; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, sim số 0364214536 của Tạ Quí H đã chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 45/KL/HĐĐG ngày 24-01-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D kết luận: 01 máy bơm hỏa tiễn nhãn hiệu LEEPRO 5.5HP 4.0KW 2850r/min có giá trị là 3.766.666 đồng; 08 cuộn dây điện tổng chiều dài là 72,21m, có đặc điểm là cuộn màu đen, bên trong có 03 lõi bằng đồng, trên thân vỏ dây có ký hiệu 1430M – dây cáp chuyên dùng ngành bơm – TCCS02 2015 – DCCU Japan – cáp 3 x 6 160518 có giá trị là 5.271.330 đồng. Tổng giá trị tài sản là 9.037.996 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Sỳ Nhì D đã nhận lại tài sản bị mất nên không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Công T đã nhận lại số tiền 318.000 đồng và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Đối với ông Nguyễn Công T là người mua dây diện do Tạ Quí H, Nguyễn Thành Đ bán, do khi mua bán ông T không biết tài sản mà H và Đ đem bán là do phạm tội mà có nên không có cơ sở xử lý đối với ông T về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Đối với Nguyễn Anh D1 là người chở máy bơm do H và Đ thuê chở, ông D1 không biết tài sản do trộm cắp mà có nên không có cơ sở xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông D1.
Tại bản cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh đã truy tố bị cáo Tạ Quí H, Nguyễn Thành Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
* Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
- Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo cáo trạng đã công bố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 đề nghị xét xử bị cáo Tạ Quí H, Nguyễn Thành Đ từ 15 đến 18 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Ông Sỳ Nhì D đã nhận lại tài sản bị mất nên không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Công T đã nhận lại số tiền 318.000 đồng và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
- Vật chứng thu giữ: 01 máy bơm loại bơm hỏa tiễn; 08 cuộn dây điện chiều dài 72,21m, có đặc điểm là cuộn màu đen, bên trong có 03 lõi bằng đồng, trên thân vỏ dây có kí hiệu 1430M- Dây cáp chuyên dùng ngành bơm – TCCS022015-DCCU Japan – cáp 3x6 16518; 01 con dao; số tiền 318.000 đồng là tiền bán dây điện, đối với những vật chứng này cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông D và ông T; Thu giữ 01 áo khoác tại hiện trường; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, sim số 0364214536 của Tạ Quí H đã chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh.
- Về án phí: Bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.
* Bị cáo nói lời sau cùng:
Tạ Quí H: Bị cáo không nói gì.
Nguyễn Thành Đ: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến thắc mắc hoặc khiếu nại về hành vi và các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi và các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo Tạ Quí H, Nguyễn Thành Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, vì muốn có tiền để phục vụ nhu cầu của bản thân nên bị cáo Tạ Quí H, Nguyễn Thành Đ đã có hành vi lén lút, lợi dụng sơ hở của bị hại để trộm cắp tài sản trị giá 9.037.996 đồng. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, kết luận điều tra và cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh đã truy tố. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Tạ Quí H, Nguyễn Thành Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ việc làm của mình là vi phạm pháp luật, nhưng bản tính tham lam, muốn có tiền để tiêu xài cho bản thân nhưng không chịu lao động chân chính nên đã cố ý phạm tội. Hành vi của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội tại địa phương. Do đó, khi lượng hình cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời gian nhất định mới có đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
- Về tình tiết tăng nặng:
Bị cáo Tạ Quí H có nhân thân xấu. Tiền sự: Ngày 21-4-2023 bị Công an huyện D xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản và từng bị kết án nhưng đã được xóa án tích, sau đó bị cáo tiếp tục phạm tội đã bị kết án (Bản án số 67/2022/HSST ngày 11-8-2022 của TAND huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng và Bản án số 139/2022/HSPT ngày của TAND tỉnh Lâm Đồng), chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, là tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h(tái phạm) khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo Nguyễn Thành Đ có nhân thân xấu, từng bị kết án nhưng đã được xóa án tích, sau đó bị cáo tiếp tục phạm tội đã bị kết án (Bản án số 67/2022/HSST ngày 11-8-2022 của TAND huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng), chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Trong vụ án này, các bị cáo là đồng phạm, các bị cáo đều là người thực hành, trực tiếp thực hiện tội phạm. Bị cáo H có tiền sự, tiền án, còn bị cáo Đ có tiền án. Xét tính chất và mức độ tham gia phạm tội thì cần có mức hình phạt tương ứng với hành vi đã thực hiện.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cũng đủ tác dụng đối với các bị cáo, đồng thời thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
- Đối với ông Nguyễn Công T là người mua dây diện do Tạ Quí H, Nguyễn Thành Đ bán, do khi mua bán ông T không biết tài sản mà H và Đ đem bán là do phạm tội mà có nên không có cơ sở xử lý đối với ông T về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
- Đối với Nguyễn Anh D1 là người chở máy bơm do H và Đ thuê chở, ông D1 không biết tài sản do trộm cắp mà có nên không có cơ sở xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với ông D1.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Ông Sỳ Nhì D đã nhận lại tài sản bị mất nên không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Công T đã nhận lại số tiền 318.000 đồng và không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên không xem xét giải quyết.
[5] Về vật chứng: 01 xe máy biển số 49AF – 03210; 01 bình xịt thuốc sâu nhãn hiệu Karana màu vàng, 01 máy hàn nhãn hiệu JASIC ZXC7 205E màu cam, 03 máy cắt nhãn hiệu Makita màu xanh đối với các vật chứng này Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng cách trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp theo quy định, không ai có ý kiến gì nên không đề cập giải quyết; 01 thẻ nhớ lưu video liên quan vụ trộm cắp tài sản hiện cần lưu giữ trong hồ sơ vụ án. 01 áo khoác không có giá trị, bị cáo H không đồng ý nhận lại cần tịch thu và tiêu hủy; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO F9 có gắn 01 sim là công cụ, phương tiện phạm tội nên tịch thu và nộp ngân sách nhà nước.
[6] Về án phí: Bị cáo Tạ Quí H, Nguyễn Thành Đ nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Tạ Quí H, Nguyễn Thành Đ đều phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 50; và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Tạ Quí H 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18-01-2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18-01-2024.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, lưu hồ sơ vụ án 01 thẻ nhớ lưu video liên quan vụ trộm cắp tài sản. Tịch thu và tiêu hủy 01 áo khoác. Tịch thu và nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO F9 có gắn 01 sim (Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04-4-2024).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Tạ Quí H, Nguyễn Thành Đ mỗi nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Tạ Quí H, Nguyễn Thành Đ có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Riêng bị hại ông Sỳ Nhì D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Công T và ông Nguyễn Anh D1 đều vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Mỹ Lệ |
Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 34/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tạ Quí H, Nguyễn Thành Đ "Trộm cắp tài sản"
