TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:34/2024/HNGĐ - ST Ngày 13/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đình Cự và bà Nguyễn Thị Vĩnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án
- Đại diện VKSND huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Kim C- Kiểm sát viên
Ngày 13 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 46/2024/TLST-HNGĐ ngày 29/3/2024 về việc “Tranh chấp về hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXX-ST ngày 10/5/2024, quyết định hoãn phiên tòa số 14/2024 ngày 28/5/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Trần Minh C1, sinh năm 1989
Người đại diện hợp pháp cho anh C1:
Ông Trần Văn T, sinh năm: 1966 – Là bố đẻ anh C1
Đều ở địa chỉ: Thôn P xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho anh C1:
Bà Trần Thị L – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh T
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990
Người đại diện hợp pháp cho chị H:
Bà Đinh Thị M, sinh năm 1967 – Là mẹ đẻ chị Huyền
Đều ở địa chỉ: Thôn B( P) xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho chị H:
Bà Đỗ Thị D – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh T
(Có mặt bà L, bà D còn lại đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn đề ngày 22/3/2024 và trong quá trình tố tụng anh C1 trình bày: Anh và chị H kết hôn do tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ (nay là xã M) huyện Đ, tỉnh Thái Bình vào ngày 13/3/2018. Trước khi cưới chị H anh C1 bị tai nạn bị hạn chế vận động nên việc đi lại rất khó khăn. Do vậy khi có người giới thiệu anh chỉ có thời gian tìm hiểu chị H rất ngắn hai người đã tổ chức kết hôn.
Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống thường xảy ra cãi vã nhau, chị H tình tình bất thường, mỗi khi mâu thuẫn với anh hoặc gia đình chồng chị H lại bỏ đi. Thời gian chung sống đã ba lần chị H bỏ đi sau đó lại quay lại chung sống với anh. Ngày 05/12/2018, chị H sinh con. Sau khi con được khoảng 06 tháng tuổi thì chị H phát bệnh thần kinh. Chị H không chịu làm ăn, còn cãi chửi nhau với mẹ chồng. Tháng 11/2019 thì chị H bỏ lại con nhỏ bị bại não cho anh nuôi và đi về bên ngoại sinh sống. Từ đó vợ chồng sống ly thân không còn tình cảm, anh C1 xin được ly hôn chị H.
Về con chung: Anh và chị H chỉ có 01 con chung là Trần Thị Thu L1, sinh ngày 05/12/2018, cháu L1 bị bại não động kinh bẩm sinh hiện được hưởng trợ cấp hàng tháng mức 900.000 đồng/tháng. Anh cũng là người khuyết tật đang hưởng trợ cấp xã hội mức 540.000đ/ tháng. Do sức khỏe yếu anh chỉ làm được những việc nhẹ thu nhập cũng rất thấp chỉ được khoảng 400.000 đồng/tháng. Hiện nay anh và con L1 phải sống dựa vào sự hỗ trợ của bố mẹ đẻ anh cả về vật chất lẫn tinh thần. Tuy nhiên nay anh đã biết chị H là người có bệnh tâm thần nên anh xin được tiếp tục nuôi con chung không yêu cầu chị H cấp dưỡng.
Về tài sản: Anh và chị không có tài sản chung, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản..
Ông Trần Văn T trình bày: Anh C1 kết hôn với chị H qua người giới thiệu. Trước khi kết hôn với chị H do anh C1 bị tai nạn đi lại khó khăn nên thời gian tìm hiểu chị H rất ngắn. Gia đình ông T và anh C1 không biết chị H bị bệnh tâm thần chỉ biết chị H là người ít nói, không được khỏe nhưng không biết chị có bệnh tâm thần. Khi kết hôn vợ chồng anh C1, H có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ (nay là xã M). Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống thường xảy ra cãi vã, đến khi chị H sinh con được khoảng 4-5 tháng gia đình mới biết con chung của anh C1 chị H bị não bẩm sinh. Từ đó chị H có những hành động lời nói không bình thường, chị còn xúc phạm anh C1 và gia đình chồng, dẫn đến vợ chồng cãi cọ và đánh nhau. Sau khi tìm hiểu thì ông T và anh C1 mới biết chị H mắc bệnh thần kinh từ trước khi kết hôn với anh C1. Khi con của chị H, anh C1 được khoảng 06-07 tháng tuổi khoảng cuối năm 2019 thì chị H bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở xã Đ sinh sống để lại con cho gia đình ông T và anh C1 trông nom, vợ chồng anh C1, chị H sống ly thân từ đó đến nay. Nay anh C1 xin ly hôn, ông T đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định của pháp luật để giải quyết cho anh C1 được ly hôn với chị H.
Về con chung: Anh C1 và chị H chỉ có 01 con chung là Trần Thị Thu L1, sinh ngày 05/12/2018, Mặc dù anh C1 là người khuyết tật nhưng anh C1 vẫn nuôi
con từ khi chị H bỏ đi, tình trạng bệnh tật của chị H như vậy nên ông T1 nghị và Tòa án tiếp tục giao cho anh C1 nuôi dưỡng cháu L1, gia đình ông sẽ hỗ trợ anh C1 trong việc trông nom chăm sóc cháu L1. Vợ chồng anh C1 chị H sau khi kết hôn không có tài sản chung còn ở chung với gia đình ông.
Bà Đinh Thị M trình bày: Chị H bị bệnh chậm phát triển tâm thần, có rối loạn tâm thần từ trước khi kết hôn với anh C1. Từ nhỏ chị H vẫn phải thường xuyên đi viện điều trị khi lớn lên bệnh tình của chị H có đỡ hơn. Chị H có sổ cấp phát thuốc điều trị miễn phí hàng tháng nhưng gần đây do gia đình bà M không có điều kiện đến viện lấy thuốc cho chị nên phải mua thuốc ngoài điều trị cho chị H theo đơn. Khi kết hôn với anh C1 tình trạng sức khỏe của chị H có ổn định. Anh C1 đến tìm hiểu chị H, gia đình bà đã nói rõ tình trạng sức khỏe của H1 anh C1 và gia đình anh C1 nhưng anh C1 và gia đình anh vẫn đề nghị cho anh C1 kết hôn với chị H. Khi kết hôn anh C1, chị H có đăng ký kết hôn tại xã Đ(nay là xã M) quê anh C1. Sau khi kết hôn vợ chồng anh C1, chị H chung sống được hai năm, đến tháng 2/2020 chị H ốm tái phát bệnh, bố mẹ anh C1 mang chị H trả cho gia đình bà M trông nom. Hiện nay nếu cứ có việc gì bị kích động là chị Huyền lại bỏ đi suốt đêm và có những hành động không bình thường nên gia đình bà phải cử người trông nom chị H thường xuyên. Nay tình trạng sức khỏe của chị H như vậy anh C1 xin ly hôn chị H bà M đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật .
Vợ chồng C1 và H có 01 con chung là Trần Thị Thu L1, sinh ngày 05/12/2018 cháu L1 bị bệnh não từ nhỏ nay vẫn chưa đi lại được chỉ nằm một chỗ. Anh C1 xin nuôi con bà M1 đề nghị giao cháu L1 cho anh C1 nuôi dưỡng chị H không phải cấp dưỡng. Hiện nay chị H bị bệnh không thể làm được việc gì, gia đình bà hoàn cảnh hiện cũng rất khó khăn, chồng bà đã mất, bà lại bị bệnh tim nên không thể hỗ trợ được chị H, anh C1, trong việc nuôi con của chị H.
Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng chị H anh C1 không tài sản gì. Khi chị H đi lấy chồng bà M cũng cho một số hồi môn nhưng không nhiều, nhưng dù là bao nhiêu đến nay gia đình bà M cũng cho hết cháu L1 con của chị H anh C1 không có yêu cầu gì. Do điều kiện sức khỏe của bà M và chị H2 vậy nên bà đề nghị Tòa án không triệu tập chị Huyền trong quá trình giải quyết vụ án và cho bà đề nghị Tòa án không phải hòa giải và xin được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án. Bà M cũng đồng ý đề nghị Trung tâm trợ giúp pháp lý cử người trợ giúp pháp lý cho chị H trong quá trình giải quyết vụ án.
Tại biên bản xác minh ngày 03/5/2024 chính quyền xã M trình bày:
Ngày 13/3/2018 chị H và anh T2 đến UBND xã Đ(nay là xã M) làm thủ tục đăng ký kết hôn. Khi đăng ký kết hôn chị H được UBND xã P giới thiệu tình trạng hôn nhân, lúc đó anh C1 bị tai nạn đi lại khó khăn là người khuyết tật vận động. chị H lúc đó không có biểu hiện tâm thần, chị H, anh C1 cũng không ai cung cấp hay thông tin cho chính quyền về việc chị bị mắc bệnh tâm thần do vậy UBND xã Đ vẫn làm thủ tục đăng kí kết hôn cho anh C1, chị H theo quy định. Anh C1, chị H được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 09 ngày 13/3/2018.
Sau khi kết hôn anh C1, chị H chung sống được thời gian ngắn chị H sinh 01 con chung là Trần Thị Thu L1, cháu L1 bị bệnh não bẩm sinh, đến nay cũng không đi lại được, từ sau khi sinh con vài tháng chị H phát bệnh tâm thần sau đó bỏ về bên ngoại sinh sống từ cuối năm 2019 đến nay. Hiện tại anh C1 và gia đình anh đang trông nom con chung của anh C1, chị H. Anh C1 và cháu L1 hiện nay đều được hưởng trợ cấp hàng tháng đối với người khuyết tật. Nay anh C1 xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.
Bà L thống nhất ý kiến của anh C1 và đại diện hợp pháp của anh C1 trình bày trong quá trình tố tụng. Bà D thống nhất ý kiến của bà M trình bày. Bà L, bà D đều đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình 2015, xử cho anh C1 được ly hôn chị H, giao con chung Trần Thị Thu L1 cho anh C1 trực tiếp nuôi dưỡng, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh C1, Bà L, bà D đều thống nhất với ý kiến của các đương sự về việc không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung của anh C1, chị H.
Bà L đề nghị HĐXX áp dụng Điều 12 nghị Quyết 326 của ủy ban thường vụ Q miễn án phí cho anh C1 do anh C1 là người khuyết tật
Tại phiên tòa đại diện VKSND huyện Đông Hưng phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đều tuân thủ đúng với quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56, điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình 2015 Xử cho anh C1 được ly hôn chị H. Giao con chung Trần Thị Thu L2 anh C1 tiếp tục nuôi dạy chấp nhận tự nguyện của anh C1 không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Về tài sản chung không đặt ra giải quyết. Miễn án phí cho anh C1 do anh là người khuyết tật có đơn xin miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, sau khi đương sự trình bày ý kiến, Tòa án xét thấy:
[1]Về tố tụng: Bà Đinh Thị M và chị Nguyễn Thị H, ông Trần Văn T và anh Trần Văn C2 vắng mặt nhưng người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của anh chiến, chị H đều có mặt, vì vậy căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với anh C2, ông T, bà M, chị H.
[2]. Về nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu của anh C2 về việc anh xin được ly hôn chị H3 xin được nuôi con chung thì thấy rằng:
Anh C2, chị H kết hôn có đăng ký tại UBND xã Đ. Mặc dù chị H đã mắc bệnh chậm phát triển tâm thần có rối loạn tâm thần từ trước khi kết hôn với anh C2 nhưng tại thời điểm đăng ký kết hôn bệnh của chị H đã ổn định anh chị tự nguyện kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường được hai năm đến khi chị H sinh con thì tái phát bệnh tâm thần. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2019 đến nay. Nay anh C2 xác định không thể chung sống với chị H được anh xin ly hôn chị H.
Xét: Đời sống chung anh chiến chị H không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được cần chấp nhận nguyện vọng của anh C2 xử cho anh C2 được ly hôn chị H.
Về con chung: Anh C2, chị H có 01 con chung là Trần Thị Thu L1, sinh ngày 05/12/2018. Nay anh C2 xin ly hôn và xin được tiếp tục nuôi con chung, do chị H mắc bệnh phải điều trị thường xuyên hàng tháng phải có người trông nom, chị H không thể lao động, anh C2 tuy là người khuyết tật nhưng vẫn có thể lao động có thu nhập mặc dù mức thu nhập không cao. Anh C2 xin nuôi con, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh, ông T3 đẻ anh C2 và người bảo vệ quyền lợi cho anh C2( bà L) đều đề nghị giao cháu L1 cho anh C2 nuôi dưỡng. Do vậy cần chấp nhận nguyện vọng của anh C2 và đại diện hợp pháp của anh C2 tiếp tục giao con Trần Thu L1 cho anh C2 nuôi dậy đồng thời chấp nhận sự tự nguyện của anh C2 và đại diện hợp pháp của anh C2 không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.
Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
[2.2]Về án phí: Anh C2 là người khuyết tật có đơn xin miễn án phí do vậy Hội đồng xét xử miễn án phí cho anh C2.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2015, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 12 nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án lệ phí Tòa án ; tuyên xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Trần Văn C2, xử cho anh Trần Văn C2 được ly hôn chị Nguyễn Thị H.
- Xử giao con chung Trần Thị Thu L1, sinh ngày 05/12/2018 cho anh C2 trực tiếp nuôi dạy. Chấp nhận sự tự nguyện của anh C2 không yêu cầu chị Huyền cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.
Hai bên được quyền thăm nom chăm sóc giáo dục con chung không ai được
cản trở.
Vì lợi ích, theo yêu cầu của cha mẹ cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Miễn án phí cho anh Trần Văn C2.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hà Thị Nhung |
Bản án số 34/2024/HNGĐ - ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp về hôn nhân gia đình
- Số bản án: 34/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Ch xin ly hôn chị h
