Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DI LINH

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 34/2024/HNGĐ-ST

Ngày 13-5-2024

V/v tranh chấp hôn nhân

và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bá Cường Huy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông K’Đào và ông Đào Duy Trâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thùy Lương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông K’Dem – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 38/2024/TLST-HNGĐ ngày 27/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXX-TA ngày 01 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2024/QÐST-HNGD ngày 17/4/2024 của Tòa án huyện D giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Đặng G; sinh năm 1985.

Địa chỉ: Số A H, tổ A, khu G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Bị đơn: Chị Lương Thị V; sinh năm 1982.

Địa chỉ: Số A H, tổ A, khu G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, anh Đặng G trình bày như sau:

Về hôn nhân, anh và chị Lương Thị V chung sống có đăng ký kết hôn ngày 20/3/2008 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Sau khi cưới nhau thì vợ chồng cùng chung sống tại Số A H, tổ A, khu G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Đến khoản năm 2017 vợ chồng mâu thuẫn do khác biệt về lối sống, một phần nguyên nhân mâu thuẫn là do khó khăn về kinh tế. Từ năm 2017 thì vợ chồng sống ly thân, nhưng vẫn ở chung nhà cho đến nay. Hiện nay, xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh xin được ly hôn với chị Lương Thị V. Về nuôi con chung, vợ chồng có 02 con chung tên Đặng Ngọc T; sinh ngày 07/6/2009 và Đặng Ngọc A; sinh ngày 23/01/2014. Khi ly hôn, yêu cầu giao cháu Đặng Ngọc A cho anh Đặng G trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Đặng Ngọc T cho chị Lương Thị V Trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, vợ chồng không có nợ chung. Tài sản chung không có, Tài sản riêng tự quản lý. Vợ chồng không có thỏa thuận gì về chế độ tài sản chung. Khi ly hôn không yêu cầu tòa án giải quyết về phần tài sản. Chứng cứ chứng minh là Giấy chứng nhận kết hôn, Giấy khai sinh của các con.

Bị đơn, chị Lương Thị V trình bày:

Việc đăng ký kết hôn và có 02 con chung như anh Đặng G trình bày là đúng. Anh G cho rằng chị không chung thủy là không đúng, chị chỉ đi thành phố Hồ Chí Minh bán vé số, làm thuê kiếm tiền nuôi con. Anh G xin ly hôn thì chị không đồng ý, chị muốn đoàn tụ vì tuổi cũng đã lớn, không còn sức khỏe. Trong quá trình giải quyết, chị có trình bày để Tòa xem xét, phân chia về phần tài sản chung của vợ chồng là 03 miếng đất chưa được cấp giấy chứng nhận. Chị Lương Thị V đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, giấy triệu tập và các Thông báo, Quyết định của tòa án, tuy nhiên không đến tham gia hòa giải. Anh Đặng G có đơn không yêu cầu hòa giải vì vậy Tòa án đã lập biên bản không hòa giải được, tiến hành họp công khai chứng cứ và đã tống đạt thông báo kết quả họp công khai chứng cứ cho các đương sự theo quy định.

Con chung Đặng Ngọc T trình bày: Khi bố mẹ ly hôn nguyện vọng muốn được ở với mẹ.

Con chung Đặng Ngọc A trình bày: Khi bố mẹ ly hôn, nguyện vọng muốn được ở với bố.

Tại phiên Tòa anh Đặng G trình bày:

Từ năm 2017, vợ chồng đã không còn tình cảm với nhau, mạnh ai người ấy sống, không chăm lo cho cuộc sống chung. Chị Lương Thị V dẫn theo con lớn là Đặng Ngọc T cứ đi đi về về giữa thành phố Hồ Chí Minh và Di L, bỏ mặc anh và con nhỏ muốn sống thế nào thì sống. Vợ chồng có nhiều lần đánh chửi, xúc phạm nhau, dẫn đến kinh tế càng khó khăn. Hiện nay anh làm nghề thợ S và là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đặng Ngọc A. Tại phiên Tòa, anh Đặng G giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ban đầu. Vợ chồng không thể hàn gắn nên cương quyết xin ly hôn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu:

Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, nhận thấy Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Về nội dung tranh chấp. Đề nghị căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 82; Điều 110; Điều 116 và Điều 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Bị đơn có nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú tại huyện D, tỉnh Lâm Đồng, tranh chấp về ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Di Linh có thẩm quyền giải quyết là đúng quy định.

[2] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự đã được Toà án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa có mặt anh Đặng G có mặt, vắng mặt chị Lương Thị V lần thứ hai không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự để đảm bảo quyền lợi cho các đương sự. Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định.

[3] Nội dung tranh chấp.

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị V và anh Đặng G sống chung có đăng ký kết hôn ngày 20/3/2008 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Sau khi cưới nhau thì vợ chồng cùng chung sống tại Số A H, tổ A, khu G, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Đến khoản năm 2017 vợ chồng mâu thuẫn do khác biệt về lối sống, Vợ chồng bỏ mặc nhau, không còn tin tưởng nhau, không chăm, lo cho cuộc sống chung. Đã có nhiều lần đánh chửi, xúc phạm lẫn nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn yêu thương quý trọng, lo lắng cho cuộc sống chung. Cả hai cũng không có phương án và ý định trở về đoàn tụ. Khi Tòa án tổ chức hòa giải, chị V cũng không quan tâm, không đến làm việc, nội dung này cho thấy ý thức bỏ mặc, không mong muốn đoàn tụ. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử cần xem xét giải quyết cho anh Đặng G và chị Lương Thị V được ly hôn là phù hợp.

[3.2] Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Đặng Ngọc T; sinh ngày 07/6/2009 và Đặng Ngọc A; sinh ngày 23/01/2014. Hiện nay, cháu Đặng Ngọc A đang ở với anh G, cháu Đặng Ngọc T đang ở với chị Lương Thị V. Xét điều kiện hoàn cảnh kinh tế của các bên và nguyện vọng của đương sự và của con chung. Để đảm bảo sự phát triển bình thường cho con nhỏ, tránh sự xáo trộn trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của các con chung. Khi Tòa án giải quyết ly hôn cần giao con chung tên Đặng Ngọc A cho anh Đặng G trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung tên Đặng Ngọc T cho chị Lương Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.

[3.3] Về phần tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

[4] Về Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Nguyễn Thị P phải chịu án phí xin ly hôn là đúng quy định.

[5] Các vấn đề khác: Trong quá trình giải quyết, chị Lương Thị V có trình bày ý kiến về việc phân chia tài sản chung là 03 mảnh đất. Tòa án đã có thông báo để chị V biết phải làm đơn khởi kiện nếu có yêu cầu phân chia tài sản. Tuy nhiên chị V không làm đơn khởi kiện, vì thế Hội đồng xét xử không xem xét. Khi chị Lương Thị V có đơn khởi kiện, sẽ được giải quyết trong một vụ án khác.

[6] Quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 2 Điều 143, khoản 1 Điều 144, khoản 4 Điều 147 điểm b khoản 2 Điều 227; 235 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 82; Điều 110; Điều 116 và Điều 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Đặng G và chị Lương Thị V được ly hôn.
  2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Đặng Ngọc A; sinh ngày 23/01/2014 cho anh Đặng G trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung tên Đặng Ngọc T; sinh ngày 07/6/2009 cho chị Lương Thị V trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo luật hôn nhân và gia đình.

Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Về phần tài: Không đề cập giải quyết.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Đặng G phải chịu là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí xin ly hôn. Anh Đặng G đã nộp đủ theo biên lai thu tiền số 0005595, ngày 27/02/2024 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
  3. Về quyền kháng cáo: Anh Đặng G có mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Lương Thị V vắng mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND huyện Di Linh;
  • - Chi cục THADS huyện Di Linh;
  • - UBND xã Trực Thuận;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Bá Cường Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 34/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Đặng G và chị Lương Thị V xin ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger