TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2024/HNGĐ-ST
Ngày 12-7-2024
V/v Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Quang Minh;
Ông Lò Văn Chiên.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Đào Mạnh Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 77/2024/TLST-HNGĐ, ngày 26 tháng 02 năm 2024, về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 22 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 24/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 19 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Vàng Thị B, sinh năm: 1993, địa chỉ: Bản H, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Anh Teo Văn K, sinh năm: 1989, địa chỉ: Bản H, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Vàng Thị B trình bày:
Chị Vàng Thị B và anh Teo Văn K là vợ chồng, có đăng ký kết hôn ngày 27/9/2011, tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu cấp. Anh K, chị B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Sau khi kết hôn, chị Vàng Thị B và anh Teo Văn K chung sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó thì thường phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do giữa chị B, anh K xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung. Anh K không quan tâm đến gia đình, không đóng góp kinh tế cho gia đình. Chị B và anh K đã sống ly thân từ năm 2021, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai, không liên lạc với nhau. Hiện nay, chị B không còn tình cảm với anh K nữa, vợ chồng không còn có sự quan tâm, chia sẻ với nhau, tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị B đề nghị Tòa án giải quyết cho chị B được ly hôn với anh K.
Về con chung: Chị Vàng Thị B và anh Teo Văn K và có 01 con chung là cháu Teo Tuấn T, sinh ngày 02/11/2012. Từ khi chị B, anh K sống ly thân thì cháu T ở cùng với chị B. Chị B luôn quan tâm, chăm sóc cháu T. Chị B có đủ điều kiện để nuôi con và có nguyện vọng sau khi ly hôn, chị B được nuôi cháu T cho đến khi cháu trưởng thành. Chị B không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Vàng Thị B và anh Teo Văn K không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án đã triệu tập và tống đạt hợp lệ cho bị đơn là anh K đến làm việc nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án, anh K không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Anh K không có yêu cầu phản tố.
Tòa án đã thông báo phiên hòa giải nhưng tại phiên hòa giải, bị đơn vắng mặt nên vụ án không hòa giải được.
Theo lời khai của cháu T1 Tuấn T: Hiện nay, cháu đang ở với mẹ, được mẹ yêu thương, quan tâm, chăm sóc. Nếu bố mẹ cháu ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.
Kết quả xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ của Tòa án, xác định: Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng chị Vàng Thị B, anh Teo Văn K và điều kiện nuôi con của chị B đúng như lời khai của đương sự.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đã đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do. Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của chị Vàng Thị B, xử: Về quan hệ hôn nhân: Chị Vàng Thị B được ly hôn với anh Teo Văn K. Về con chung: Giao cháu Teo Tuấn T, sinh ngày 02/11/2012, cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Chị B không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào diễn biến phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn là chị Vàng Thị B có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa chị B và bị đơn là anh Teo Văn K. Chị B và anh K đều cư trú tại bản H, xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu. Vì vậy, đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có yêu cầu phản tố. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Nguyên đơn vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vàng Thị B và anh Teo Văn K là vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào ngày 27/9/2011, tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Lai Châu theo đúng quy định pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, chị B và anh K chung sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó thì thường phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do giữa hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không chia sẻ, thông cảm cho nhau. Anh K không quan tâm đến gia đình, vợ con, không đóng góp kinh tế cho gia đình. Chị B và anh K đã sống ly thân, không còn yêu thương nhau, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Hiện nay, chị B không còn tình cảm với anh K nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh K. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, anh K vắng mặt. Tòa án đã thông báo phiên hòa giải và triệu tập các đương sự để tiến hành hòa giải nhưng tại phiên hòa giải, anh K vắng mặt không có lý do nên không hòa giải được. Giữa chị B và anh K không còn có sự quan tâm, chia sẻ, chăm sóc, yêu thương nhau, quan hệ hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị B, giải quyết cho chị B được ly hôn với anh K theo quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị B và anh K có 01 con chung là cháu Teo Tuấn T, sinh ngày 02/11/2012. Từ khi chị B, anh K sống ly thân, cháu T ở chùng với chị B, được chị B quan tâm, chăm sóc. Khi được Tòa án hỏi ý kiến, cháu T có nguyện vọng được ở với mẹ. Hiện nay, chị B đủ sức khỏe và điều kiện kinh tế, có đủ khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con và có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu T cho đến khi cháu trưởng thành. Vì vậy, để đảm bảo các điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu T cho chị B là người trực tiếp nuôi cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị B không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản: Chị B và anh K không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp tiền án phí theo quy định tại Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 266, 271, 273, của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vàng Thị B được ly hôn với anh Teo Văn K.
- Về con chung: Giao cháu Teo Tuấn T, sinh ngày 02/11/2012, cho chị Vàng Thị B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu T đủ 18 tuổi. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Vàng Thị B không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản: Chị Vàng Thị B và anh Teo Văn K không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm: Chị Vàng Thị B phải chịu án phí đối với vụ án hôn nhân và gia đình, số tiền án phí phải nộp là 300.000 đồng. Khấu trừ với số tiền tạm ứng án phí chị B đã nộp theo biên lai số: 0000383, ngày 26/02/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, chị B đã nộp đủ số tiền án phí phải nộp.
3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện Phong Thổ; - THADS huyện Phong Thổ; - UBND xã Mường So (Nơi ĐKKH); - Đương sự; - Lưu: HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hạnh |
Bản án số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 34/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị B xin ly hôn
