trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SƠN DƯƠNG

TỈNH TUYÊN QUANG

Bản án số: 34/2024/HS-ST

Ngày 12-4-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Cường.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Quang.

2. Ông Nguyễn Minh Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Trần Thị Minh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Long – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến từ điểm cầu Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đến điểm cầu Hội trường xét xử trực tuyến Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang vụ án hình sự thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 đối với:

Bị cáo: VŨ QUANG VINH – Sinh ngày: 07/4/2000 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Nơi cư trú: Khu A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Vũ Văn B - Sinh năm: 1979; Con bà: Trần Thị L – Sinh năm: 1979; Vợ, con: Không.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Vũ Quang V bị bắt tạm giam ngày 21-01-2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T theo Quyết định tạm giam số: 09/2024/HSST-QĐTG ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

Bị hại:

- Anh Nguyễn Văn K – Sinh năm: 1990; Địa chỉ: Thôn V, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

- Anh Nguyễn Văn B1 – Sinh năm: 1984; Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Đinh Thị Loan H – Sinh năm: 1987; Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2022, bị cáo Vũ Quang V có mở quán và đăng ký kinh doanh dịch vụ trao đổi mua bán xe mô tô cũ tại xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, nhưng do làm ăn thua lỗ không có tiền trả nợ nên bị cáo V phải đóng cửa quán. Đến tháng 10-2023, do không có tiền chi tiêu cá nhân nên bị cáo V nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của những người có nhu cầu mua xe mô tô cũ. Bị cáo V sử dụng điện thoại truy cập vào mạng xã hội Z, Facebook của mình nhắn tin cho những người trước đây đã từng trao đổi mua bán xe mô tô cũ với bị cáo V. Quá trình nhắn tin mời chào, bị cáo V gửi hình ảnh các xe mô tô đã chụp từ thời gian còn kinh doanh trước đây để tạo lòng tin cho những người mua (Thực tế những chiếc xe này bị cáo V đã bán trước đó, hiện tại không xác định đã bán cho ai và ai đang là chủ sở hữu, vì không có giấy tờ mua bán). Sau khi có khách hàng tin tưởng thống nhất mua xe, bị cáo V yêu cầu người mua xe chuyển tiền đặt cọc rồi chiếm đoạt. Với phương thức thủ đọan nên trên, bị cáo V đã 02 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn huyện S, tỉnh Tuyên Quang, cụ thể:

Lần 1: Ngày 12-10-2023, bị cáo V sử dụng tài khoản Facebook “Bin Bin” nhắn tin đến tài khoản Facebook của anh Nguyễn Văn K (năm 2022, bị cáo V và anh K đã mua bán xe mô tô với nhau nên có tài khoản Facebook của nhau) mời chào anh K mua xe mô tô cũ. Sau đó, bị cáo V gửi cho anh K hình ảnh 02 xe mô tô, gồm: 01 xe nhãn hiệu Honda Dream, màu sơn nâu, biển số 22S1-331.89 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anlpha, màu sơn xanh, biển số 29S3-0391. Bị cáo V và anh K thỏa thuận giá mua bán chiếc xe mô tô Honda Dream là 16.000.000 đồng; chiếc xe Honda Wave Anlpha giá 6.500.000 đồng. Ngày 13-10-2023, bị cáo V yêu cầu anh K chuyển tiền đặt cọc mua 02 xe mô tô vào tài khoản số 1019922261 Ngân hàng V1 của bị cáo V, gồm: 4.000.000 đồng tiền đặt cọc mua xe H1 và 5.000.000 đồng tiền đặt cọc mua xe Honda Dream. Do tin tưởng nên anh K đồng ý và sử dụng tài khoản số [...] Ngân hàng M của mình chuyển khoản cho bị cáo V tổng số 9.000.000 đồng. Nhận được tiền đặt cọc mua 02 xe mô tô của anh K, bị cáo V sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Sau nhiều lần gọi điện thoại liên lạc với bị cáo V yêu cầu giao xe nhưng bị cáo V không có xe mô tô giao cho anh K. Ngày 19-01-2024, anh K đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang trình báo sự việc.

Lần 2: Ngày 13-10-2023, bị cáo V sử dụng điện thoại di động cá nhân, truy cập vào ứng dụng Zalo nhắn tin cho anh Nguyễn Văn B1 (năm 2022, anh B1 có mua xe cũ của bị cáo V và kết bạn Zalo với bị cáo V) mời chào anh B1 mua xe mô tô cũ và gửi cho anh B1 xem hình ảnh chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu sơn nâu, biển số 22B1-213.16. Do tin tưởng nên anh B1 đồng ý mua xe, hai bên thỏa thuận giá mua bán chiếc xe là 17.500.000 đồng. Sau đó, bị cáo V yêu cầu anh B1 chuyển tiền đặt cọc mua xe vào tài khoản số 1019922261 Ngân hàng V1 của bị cáo V. Anh B1 đồng ý và sử dụng tài khoản số [...] ngân hàng S của chị Đinh Thị Loan H (vợ anh B1) chuyển khoản cho bị cáo V 03 lần để đặt cọc mua xe, tổng số tiền là 12.000.000 đồng (lần 1 = 500.000 đồng, lần 2 = 1.500.000 đồng, lần 3 = 10.000.000 đồng). Nhận được tiền đặt cọc mua xe mô tô của anh B1, bị cáo V đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Tại bản Kết luận giám định số: 316/KL-KTHS ngày 27-02-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Trong điện thoại (thu giữ của V) gửi giám định tìm thấy 130 tệp hình ảnh (thời gian từ ngày 05/6/2023 đến 19/01/2024). Toàn bộ dữ liệu được sao lưu ra 01 đĩa DVD.

Tại cáo trạng số: 30/CT-VKSSD ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang quyết định truy tố đối với bị cáo Vũ Quang V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang thực hành quyền công tố, có quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Vũ Quang V. Đưa ra chứng cứ đánh giá mức độ hành vi phạm tội và thái độ thành khẩn khai báo của bị cáo cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đề nghị với HĐXX:

Về tội danh: Tuyên bị cáo Vũ Quang V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Quang V từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo Vũ Quang V bị bắt tạm giam, ngày 21-01-2024.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Vũ Quang V đã tác động nhờ gia đình bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Văn K số tiền 9.000.000 đồng và bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Văn B1 số tiền 12.000.000đ. Anh B1 và anh K đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không đề nghị HĐXX xem xét, giải quyết.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước công cụ bị cáo Vũ Quang V dùng vào việc phạm tội.

01 Điện thoại di động, nhãn hiệu Apple, tên kiểu máy Iphone Xr, màu hồng, số máy MRY92KH/A; số seri F2LYR0B1KXK6; số imei: 353082104004545; số imei 2: 353082103930443. Tình trạng điện thoại cũ đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Vũ Quang V tài sản không phải là vật chứng.

01 Sim của nhà mạng Viettel, trên sim có ghi dãy số 8984048000064208041.

(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 01-4-2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang).

Về án phí và quyền kháng cáo: Theo quy định của pháp luật.

Phần tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo Vũ Quang V nhất trí với quan điểm của Kiểm sát viên đưa ra tại phiên tòa.

Quyền của bị cáo được nói lời sau cùng: Bị cáo Vũ Quang V đã nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Quang V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo Vũ Quang V khai phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Trong các ngày 12-10-2023 và ngày 13-10-2023, bị cáo Vũ Quang V thông qua mạng xã hội đã có hành vi sử dụng hình ảnh của những chiếc xe mô tô cũ trước đây bị cáo V đã từng mua bán để thực hiện hành vi lừa dối bán lại, chiếm đoạt tài sản trên địa bàn huyện S, tỉnh Tuyên Quang, như sau:

Lần 1: Ngày 12-10-2023, bị cáo Vũ Quang V sử dụng hình ảnh 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu sơn nâu, biển số 22S1-331.89 và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anlpha, màu sơn xanh, biển số 29S3-0391 để lừa bán cho anh Nguyễn Văn K, chiếm đoạt số tiền đặt cọc 9.000.000 đồng.

Lần 2: Ngày 13-10-2023, với phương thức thủ đoạn như trên, bị cáo Vũ Quang V lừa bán cho anh Nguyễn Văn B1 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu sơn nâu, biển số 22B1-213.16, chiếm đoạt số tiền đặt cọc 12.000.000 đồng.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; thực hiện hành vi vi phạm pháp luật với lỗi cố ý. Vì mục đích vụ lợi cá nhân, bằng thủ đoạn gian dối, bị cáo đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị hại số tiền 21.000.000 đồng (chiếm đoạt của bị hại K số tiền 9.000.000đ; chiếm đoạt của bị hại Ba số tiền 12.000.000đ). Hành vi này của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vũ Quang V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Quang V thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; bị cáo tác động nhờ gia đình bồi thường cho các bị hại; tại phiên tòa, các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt khi lượng hình theo quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[3] Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 12-10-2023, bị cáo Vũ Quang V thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 9.000.000đ của bị hại Nguyễn Văn K; Ngày 13-10-2023, bị cáo Vũ Quang V thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 12.000.000đ của bị hại Nguyễn Văn B1. Do vậy, bị cáo V phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy bị cáo Vũ Quang V làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Tính chất và mức độ của hành vi phạm tội: Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Quang V là nguy hiểm cho xã hội, cố ý xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân. Như vậy, thể hiện bị cáo rất coi thường pháp luật. Hội đồng xét xử thấy rằng cần lên một mức án nghiêm minh, phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả mà bị cáo đã gây ra và cách ly bị cáo trong trại cải tạo một thời gian để bị cáo tu dưỡng, rèn luyện trở thành công dân có ích cho xã hội, góp phần đảm bảo an ninh trật tự cũng như phòng ngừa tội phạm trong gia đình, cộng đồng và xã hội.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo và các bị hại đều thừa nhận bị cáo V đã tác động nhờ gia đình bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Văn K số tiền 9.000.000 đồng và bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Văn B1 số tiền 12.000.000đ. Anh B1 và anh K đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

[7] Về vật chứng:

- Đối 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, kiểu máy Iphone Xr. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, xác định chiếc điện thoại này là của bị cáo V; bị cáo thừa nhận quá trình thực hiện hành vi lừa đảo, bị cáo sử dụng chiếc điện thoại nói trên làm công cụ để liên lạc, gửi hình ảnh, nhận tiền đặt cọc với các bị hại khác. Do vậy, chiếc điện thoại nói trên là công cụ dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp, có căn cứ.

- Đối với 01 chiếc Sim điện thoại nhà mạng Viettel. HĐXX xét thấy, quá trình thực hiện hành vi lừa đảo, bị cáo không sử dụng chiếc sim nói trên vào hành vi phạm tội. Do vậy, chiếc sim nói trên không phải là vật chứng của vụ án và cần trả lại cho bị cáo quản lý là có căn cứ.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo Vũ Quang V phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 174; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự;

Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Điều 21; khoản 1 Điều 23 theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 “Quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”;

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Vũ Quang V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Vũ Quang V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo Vũ Quang V bị bắt tạm giam ngày 21-01-2024.

Về vật chứng:

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước công cụ bị cáo Vũ Quang V dùng vào việc phạm tội.

01 Điện thoại di động, nhãn hiệu Apple, tên kiểu máy Iphone Xr, màu hồng, số máy MRY92KH/A; số seri F2LYR0B1KXK6; số imei: 353082104004545; số imei 2: 353082103930443. Tình trạng điện thoại cũ đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo Vũ Quang V tài sản không phải là vật chứng.

01 Sim của nhà mạng Viettel, trên sim có ghi dãy số 8984048000064208041.

(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 01-4-2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang).

Về án phí:

Buộc bị cáo Vũ Quang V phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

Bị cáo Vũ Quang V; bị hại anh Nguyễn Văn K, anh Nguyễn Văn B1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Đinh Thị Loan H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 12-4-2024).

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - VKSND huyện Sơn Dương;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - Công an huyện Sơn Dương;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
  • - Chi cục THADS huyện Sơn Dương;
  • - Lưu hs, hstha, vp.

T-M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Việt Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HS-ST ngày 12/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 34/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Quang Vinh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger