|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2024/HNGĐ-ST Ngày: 11 - 9 - 2024 “V/v Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Phúc Định.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Đức Thành và bà Vũ Thị Thanh
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Chung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Viện - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 45/2024/TLST-HNGĐ ngày 27/5/2024 về việc: “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2024/QÐST-HNGĐ ngày 30/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị H, sinh năm 2002. Nơi thường trú: thôn E, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh - Có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Anh Đặng Văn H1, sinh năm 2000. Nơi thường trú: số H, khu A, phường H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh - Vắng mặt tại phiên tòa lần 2 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn - chị Ngô Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh H1 tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh ngày 11 tháng 8 năm 2020. Sau khi kết hôn cả hai chung sống tại khu A, phường H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, không còn yêu thương nhau nữa. Cả hai đã sống ly thân được khoảng 3 năm. Đến nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ nên chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H ly hôn với anh H1.
Về con chung: Chị H và anh H1 có 01 (Một) người con chung là: Đặng Minh T, sinh ngày 29 tháng 11 năm 2018. Khi ly hôn, chị H đề nghị Tòa án giao cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có và chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập, thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án như Thông báo thụ lý, giấy triệu tập, Thông báo công khai chứng cứ và hòa giải, theo quy định của pháp luật cho anh Đặng Văn H1, tuy nhiên anh Đặng Văn H1 không có mặt tại các phiên họp và các buổi làm việc vắng mặt không có lý do; bà Bùi Thị H2 – mẹ đẻ anh H1 nhận và thông báo lại cho anh H1, anh H1 đang đi làm nên không thể có mặt theo thông báo của Tòa án và có nói với bà H2 là anh đồng ý ly hôn với chị H, yêu cầu được nuôi con chung Đặng Minh T, không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Quá trình xác minh tại khu A, phường H ngày 29 tháng 7 năm 2024, chính quyền địa phương cho biết: Chị H và anh H1 tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh ngày 11 tháng 8 năm 2020. Sau khi kết hôn cả hai chung sống tại khu A, phường H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống vợ chồng không yêu cầu khu hòa giải mâu thuẫn, khu chỉ được biết vợ chồng có mâu thuẫn, đã sống ly thân. Nay chị H đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh H1 thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: chị và anh H1 có 01 con chung là Đặng Minh T, sinh ngày 29 tháng 11 năm 2018. Khi ly hôn đề nghị xem xét, giải quyết đảm bảo quyền lợi cho các bên. Về tài sản khu phố không nắm được.
Quá trình xác minh ngày 08 tháng 8 năm 2024 tại nhà anh Đặng Văn H1, bà Bùi Thị H2 – mẹ đẻ anh H1 cho biết: Chị H và anh H1 là con dâu và con trai bà. Cả hai kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh ngày 11 tháng 8 năm 2020. Sau khi kết hôn cả hai chung sống tại nhà bà khu A, phường H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống cả hai có xảy ra mâu thuẫn và chị H đã về nhà mẹ đẻ sinh sống. Các văn bản tố tụng của Tòa án như Thông báo thụ lý, giấy triệu tập, Thông báo công khai chứng cứ và hòa giải ... bà H2 nhận và thông báo lại cho anh H1. Anh H1 có nói là anh đang đi làm nên không thể có mặt theo thông báo của Tòa án. Anh H1 có nói là anh đồng ý ly hôn với chị H, anh yêu cầu nuôi con chung là Đặng Minh T, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên phát biểu quan điểm:
- - Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị H. Xử: chị Ngô Thị H được ly hôn anh Đặng Văn H1; về con chung: giao cho chị Ngô Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cháu Đặng Minh T, sinh ngày 29 tháng 11 năm 2018 đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); anh Đặng Văn H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung và vay nợ chung: các đương sự không yêu cầu giải quyết; về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Ngô Thị H khởi kiện về việc ly hôn với anh Đặng Văn H1 và cung cấp các tài liệu làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án. Bị đơn anh Đặng Văn H1 có nơi cư trú tại khu A, phường H, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Ngô Thị H có mặt tại phiên tòa; bị đơn anh Đặng Văn H1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có ý do (Tòa án đã triệu tập hợp lệ). Do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn đảm bảo đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị H và anh Đặng Văn H1 có đăng ký kết hôn từ năm 2020 cho đến nay là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo hộ. Hội đồng xét xử xét thấy để cuộc sống vợ chồng hôn nhân tồn tại, mục đích hôn nhân đạt được thì phải xuất phát từ ý chí, nguyện vọng của hai bên vợ chồng, tình cảm phải trên cơ sở tự nguyện từ hai phía, phải thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống chị Ngô Thị H và anh Đặng Văn H1 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã sống ly thân, trong quá trình sống ly thân không còn quan tâm, chăm sóc nhau; anh Đặng Văn H1 có quan điểm đồng ý ly hôn với chị Ngô Thị H. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị Ngô Thị H và anh Đặng Văn H1 đã trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử ghi nhận về quan điểm ly hôn giữa chị Ngô Thị H và anh Đặng Văn H1, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Ngô Thị H đối với anh Đặng Văn H1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Chị Ngô Thị H và anh Đặng Văn H1 có 01 (Một) người con chung là: Đặng Minh T, sinh ngày 29 tháng 11 năm 2018. Chị Ngô Thị H có quan điểm trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung, anh Đặng Văn H1 không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, con chung là Đặng Minh T, sinh ngày 29 tháng 11 năm 2018 đang còn nhỏ, anh H1 có quan điểm nói lại qua mẹ anh H1 là yêu cầu được nuôi con chung nhưng không chấp hành quy định tố tụng dân sự, không có mặt các buổi làm việc và tại phiên tòa xét xử, đi làm xa không có nhà và không có điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung, nên Hội đồng xét xử ghi nhận quan điểm về việc nuôi dưỡng con chung của chị Ngô Thị H và không chấp nhận quan điểm nuôi con chung của anh Đặng Văn H1; giao con chung là Đặng Minh T, sinh ngày 29 tháng 11 năm 2018, cho chị Ngô Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); anh Đặng Văn H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung, là phù hợp với Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết, anh Đặng Văn H1 có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3] Về tài sản chung và vay nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Chị Ngô Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 238; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- - Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ngô Thị H.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị H được ly hôn anh Đặng Văn H1.
- Về con chung: Giao cho chị Ngô Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Đặng Minh T, sinh ngày 29 tháng 11 năm 2018 đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); anh Đặng Văn H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau ly hôn, anh Đặng Văn H1 không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Đồng thời không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí: Chị Ngô Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị Ngô Thị H đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003890 ngày 27/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, chị Ngô Thị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm ngày) ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm ngày) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Phúc Định |
Bản án số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 11/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 34/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ngô Thị Hương Chị Ngô Thị Hương được ly hôn anh Đặng Văn Hưng
