Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

TỈNH ĐỒNG NAI


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 34/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 11 - 6 - 2024

V/v: “Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Thanh Tâm

2. Bà Nguyễn Thị Kim Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trực, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Yến, Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 480/2023/LTST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024, thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 295/TB ngày 16/5/2024, quyết định hoãn phiên tòa số 53/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29/5/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: chị Nguyễn Minh C, sinh năm 2001; địa chỉ: Tổ D, khu phố R, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
  • - Bị đơn: anh Võ Minh T, sinh năm 2000; địa chỉ: Tổ F, ấp B, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.

(Chị C, anh T có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 29/9/2023, bản tự khai và biên bản lấy lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử nguyên đơn chị Nguyễn Minh C trình bày:

Chị và anh Võ Minh T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 10/5/2022.

Sau khi kết hôn và chung sống với nhau được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng luôn bất đồng, xung đột về tình cảm và định hướng phát triển tương lai. Đặc biệt, anh T chuyên tụ tập bạn bè ăn chơi, không tu chí làm ăn, phát sinh nợ nần làm ảnh hưởng đến sinh hoạt, hạnh phúc vợ chồng. Từ đó dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên cãi vã. Đỉnh điểm là đầu tháng 7/2023 chị và anh T cãi vã rất nghiêm trọng nên chị đã về nhà cha mẹ chị tại tổ D, khu phố R phường B, thành phố L để sinh sống, vợ chồng chị sống ly thân từ đó cho đến nay. Vợ chồng không chung sống với nhau nên tình cảm không còn, hôn nhân của chị với anh T lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không còn quan tâm gì đến nhau, mạnh ai nấy sống. Để ổn định đời sống riêng, chị Nguyễn Minh C yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Võ Minh T.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: không có.

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai của đương sự và biên bản đối chất anh Võ Minh T trình bày:

Anh Võ Minh T xác định đã kết hôn với chị Nguyễn Minh C tại Ủy ban nhân dân xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai vào năm 2022. Trong thời gian chung sống 2 vợ chồng hòa thuận không mâu thuẫn, không cãi vã. Ngày 09/7/2023 anh T đọc tin nhắn trong điện thoại chị C thì thấy có tin nhắn của một người đàn ông nhắn tin rủ chị C đi chơi. Cũng vì ghen tuông nên vợ chồng anh chị xảy ra cãi vã. Qua sự việc này, chị C bỏ về nhà mẹ chị sinh sống đến nay. Thời gian đầu sau khi ly thân, anh T muốn liên lạc với chị C để tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không có kết quả vì chị C không muốn gặp mặt và thường xuyên né tránh. Nên sau đó anh không đến nhà chị C nữa, hai người không liên lạc gì với nhau và mạnh ai nấy sống cho đến khi chị C gửi đơn ly hôn đến Tòa án. Qua yêu cầu xin ly hôn của chị C, anh T muốn vợ chồng đoàn tụ và không đồng ý ly hôn.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thu thập những tài liệu, chứng cứ sau:

Nguyên đơn cung cấp:

  • Đơn khởi kiện; Căn cước công dân chị Nguyễn Minh C (bản sao); Giấy chứng nhận kết hôn (bản sao); Đơn đề nghị; Bản tự khai;

Bị đơn cung cấp: Bản tự khai; Căn cước công dân (bản phô tô).

Tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập:

  • Biên bản lấy lời khai anh T, chị C ngày 28/11/2023; Biên bản lấy lời khai anh T ngày 22/3/2024; Biên bản lấy lời khai anh T, chị C ngày 22/3/2024.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị C. Chị Nguyễn Minh C được ly hôn với anh Võ Minh T; về con chung: không có nên không xem xét; về tài sản chung, nợ chung: đương sự khai không có nên không giải quyết.

Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Minh C khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Võ Minh T. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết trong vụ án này được xác định là: “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Võ Minh T có hộ khẩu thường trú tại: Tổ F, ấp B, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị Nguyễn Minh C, anh Võ Minh T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ các điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị C và anh T được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo luật định, vào sổ cấp giấy số 33/2022 ngày 10/5/2022, do đó đây là hôn nhân hợp pháp, nên được pháp luật bảo vệ.

Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn - Chị Nguyễn Minh C, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong quá trình chung sống cả hai đều xác định vợ chồng có cãi nhưng không lớn. Đỉnh điểm của mâu thuẫn là ngày 09/7/2023 anh chị tiếp tục gây gổ, cãi vã, chị C về nhà cha mẹ ruột ở và ly thân cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, chị C và anh T cắt đứt liên lạc. Thời gian đầu sau khi ly thân, anh T có đến nhà chị C với mục đích hàn gắn đoàn tụ. Tuy nhiên, chị C né tránh nên sau đó không ai liên lạc với ai, mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm đến nhau. Do vậy, chị C yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, còn anh T thì muốn vợ chồng đoàn tụ nên không đồng ý ly hôn.

Quá trình giải quyết ly hôn, Tòa án đã nhiều lần tạo điều kiện để bị đơn là anh T có cơ hội hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Thời gian đầu, anh T có đến nhà chị C với mục đích hàn gắn đoàn tụ nhưng chị C né tránh và không gặp mặt sau đó không liên lạc gì với nhau, không nhờ người thân tác động để vợ chồng được đoàn tụ mà vẫn thờ ơ, bỏ mặc nhau muốn sống ra sao thì sống, vợ chồng không quan tâm gì đến cuộc sống của nhau. Xét thấy, chị C và anh T không còn quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị C yêu cầu ly hôn với anh T là có căn cứ phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về con chung: vợ chồng chung sống không có con chung nên không đặt ra giải quyết.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị C, anh T xác định không có.

[6] Về án phí: Chị C là nguyên đơn trong vụ án ly hôn, nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

[7] Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1, Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Áp dụng Điều 19; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Minh C.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Minh C được ly hôn với anh Võ Minh T.
  2. Về con chung: Không có.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Minh C phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ chị C đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0007079 ngày 30/9/2023 tại Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. Chị C đã nộp đủ án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP. Long Khánh;
  • - THADS TP. Long Khánh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Thu Trang

4

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HNGĐ - ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 34/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger