TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 34/2024/HNGĐ-ST Ngày 11/6/2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Xuân Hoài
Ông Lê Phi Long
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Mai - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 21/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 25/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 25/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1993; nơi cư trú: khu M, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).
- Bị đơn: anh Đoàn Viết L1, sinh năm 1992; nơi cư trú cuối cùng: Tổ A, Khu F, phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: Canada, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:
Chị và anh Đoàn Viết L1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 18/12/2013, tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại tổ A, khu F, phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Ngày 30/4/2021, anh L1 đi xuất khẩu lao động tại Canada. Từ khi sang Canada đến nay, anh L1 không về Việt Nam và cũng ít liên lạc với chị L nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn về kinh tế và bất đồng quan điểm. Sau khi hết thời hạn xuất khẩu lao động, chị L đã khuyên anh L1 về Việt Nam để vợ chồng khắc phục mâu thuẫn, đoàn tụ gia đình nhưng anh L1 không muốn về và không nói cho chị biết địa chỉ chính xác hiện nay của anh L1 ở Canada, chị chỉ biết anh L1 vẫn thường xuyên liên lạc với bố mẹ đẻ anh L1 là ông Đoàn Ngọc L2 và bà Lê Thị H.
Đến nay chị L nhận thấy mâu thuẫn của vợ chồng đã thực sự trầm trọng, hai bên không còn sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn nên chị L yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đoàn Viết L1.
Về con chung: chị và anh L1 có có hai con chung là Đoàn Khánh C, sinh ngày 16/6/2014 và Đoàn Khánh N, sinh ngày 16/7/2020, hiện nay các con chung đang ở với chị. Chị yêu cầu Tòa án giao các con chung cho chị tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi; chị không yêu cầu anh L1 phải cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung, nợ chung: chị tự thỏa thuận giải quyết với anh L1, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại Công văn số: 7138/QLXNC-P3 ngày 09/4/2024, của Cục Q - Bộ C1 cung cấp thông tin xuất nhập cảnh từ ngày 01/4/2021 đến nay, trường hợp Đoàn Viết L1, sinh ngày 29/10/1992; CCCD số: [...]; địa chỉ: Đ, H, Quảng Ninh, xuất cảnh ngày 28/4/2021, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.
* Ngày 01/4/2024 và ngày 19/4/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã lấy lời khai và nhận được Đơn trình bày của ông Đoàn Ngọc L2 và bà Lê Thị H (là bố mẹ đẻ của anh L1) thể hiện nội dung: anh Đoàn Viết L1 đã đi xuất khẩu lao động tại Canada từ tháng 4/2021, tuy nhiên ông L2 và bà H chưa cung cấp được cho Tòa án biết địa chỉ chính xác hiện nay của anh L1 ở Canada. Ông bà đã thông báo cho anh L1 biết hiện nay Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đang thụ lý giải quyết đơn khởi kiện xin ly hôn của chị L đối với anh L1 và cam kết nhận tài liệu, giấy tờ của Tòa án thay cho anh L1.
* Tại Biên bản ghi ý kiến ngày 15/4/2024, của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đối với cháu Đoàn Khánh C, sinh ngày 16/6/2014, là con chung của chị L và anh L1. Cháu Đoàn Khánh C có nguyện vọng được ở với mẹ.
* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán; Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án, đã tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn chị Nguyễn Thị L đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị L như nêu trên. Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh nhận thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L đối với anh Đoàn Viết L1: chị L được ly hôn với anh L1; giao cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung là Đoàn Khánh C, sinh ngày 16/6/2014 và Đoàn Khánh N, sinh ngày 16/7/2020; anh L1 không phải cấp dưỡng cho con.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng: căn cứ đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình tố tụng, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; bị đơn anh Đoàn Viết L1 hiện đang sinh sống, làm việc tại Canada. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm a khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn anh Đoàn Viết L1 vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, đã được Tòa án tống đạt hợp lệ cho người thân trong gia đình, niêm yết các văn bản tố tụng tại chính quyền địa phương theo quy định pháp luật. Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; hướng dẫn tại Công văn số: 253/TANDTC-PC ngày 26 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và công bố các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị L và anh Đoàn Viết L1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 18/12/2013, tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Sau khi kết hôn, chị L và anh L1 chung sống tại tổ A, khu F, phường Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh và đã có thời gian dài sống hạnh phúc. Từ tháng 4/2021, anh L1 đi xuất khẩu lao động tại Canada cho đến nay vẫn chưa về Việt Nam thăm gia đình, vợ con. Chị L cho rằng từ khi sang Canada đến nay, anh L1 ít liên lạc với chị L nên vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn về kinh tế và bất đồng quan điểm. Khi hết thời hạn xuất khẩu lao động, chị L đã khuyên anh L1 về Việt Nam để vợ chồng khắc phục mâu thuẫn, đoàn tụ gia đình nhưng anh L1 không muốn về và không nói cho chị biết địa chỉ chính xác hiện nay của anh L1 ở Canada. Căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy: chị L và anh L1 đã không còn tồn tại thực tế đời sống chung vợ chồng; vợ chồng không thực hiện nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, chăm sóc, quan tâm giúp đỡ nhau cả về vật chất và tinh thần, không còn cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị L đối với anh L1.
[2.2] Về con chung: chị Nguyễn Thị L và anh Đoàn Viết L1 có hai con chung là Đoàn Khánh C, sinh ngày 16/6/2014 và Đoàn Khánh N, sinh ngày 16/7/2020, hiện nay hai con chung đang ở với chị L. Chị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng các con chung và không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng cho con. Căn cứ quy định tại Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử đã chấp nhận yêu cầu xin
ly hôn của chị L đối với anh L1 nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu, quan điểm của chị L về việc được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung và không làm xáo trộn cuộc sống sinh hoạt của các con chung, phù hợp với nguyện vọng của cháu Đoàn Khánh C là muốn ở với mẹ. Anh L1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[2.3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: chị Nguyễn Thị L không yêu cầu anh Đoàn Viết L1 cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Thị L có quan điểm tự thỏa thuận giải quyết với anh Đoàn Viết L1, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3] Về án phí: căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326 /2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5] Chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh về nội dung giải quyết vụ án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 và khoản 2 Điều 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L.
[1] Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Đoàn Viết L1.
[2] Về con chung: giao cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung là Đoàn Khánh C, sinh ngày 16/6/2014 và Đoàn Khánh N, sinh ngày 16/7/2020 cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Đoàn Viết L1 không phải cấp dưỡng cho con.
Sau khi ly hôn, anh Đoàn Viết L1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nếu anh Đoàn Viết L1 lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Nguyễn Thị L có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Hoặc nhận thấy chị Nguyễn Thị L không đủ điều kiện bảo đảm quyền lợi ích của con thì anh Đoàn Viết L1 có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
[3] Về tài sản chung, nợ chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về án phí: chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005789 ngày 29/3/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho: chị Nguyễn Thị L biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật; anh Đoàn Viết L1 biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thúy Hằng |
Bản án số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 34/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị L - Đoàn Viết L1
