Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUY NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

Bản án số: 34/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 11-01-2024

V/v ly hôn giữa chị Nhung và anh Duy.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Kim Anh

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Đình Thọ

Ông Nguyễn Tấn Bình

-Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Phong là Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định

tham gia phiên tòa: Bà Tô Thị Bích Trâm - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 953/2023/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2023 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 362/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 273/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn K, xã P, huyện T, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
  • - Bị đơn: Anh Lê D, sinh năm 1984; nơi cư trú: G L, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 09-6-2023 của chị Nguyễn Thị Hồng N và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Chị và anh Lê D kết hôn vào ngày 10/3/2015 có đăng ký kết hôn và được UBND phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định cấp giấy chứng nhận kết hôn số 27 ngày 10/3/2015, trên cơ sở tự nguyện và có tìm hiểu. Trước khi kết hôn, chị và anh D có thời gian tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ giữa năm 2014, đến năm 2015 mới làm thủ tục đăng ký kết hôn. Kể từ ngày chung sống thời gian đầu vợ

chồng chị sống hạnh phúc bình thường, đến năm 2017 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, mặt khác anh D không lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con nên kinh tế gia đình khó khăn, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Chị và gia đình cũng đã tìm biện pháp khuyên nhủ nhiều lần để hàn gắn gia đình nhưng anh D vẫn không thay đổi. Đến năm 2020 chị về nhà mẹ đẻ ở và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay, phần ai nấy sống, không còn quan tâm gì đến nhau, tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu Tòa giải quyết cho chị được ly hôn với anh D để chị ổn định cuộc sống lo làm ăn nuôi con.

Về con chung: Chị và anh D có 01 con chung tên là Lê Lan A, sinh ngày 13-7-2015, hiện sức khỏe cháu A vẫn bình thường và đang sống cùng với chị. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn và không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa giải quyết.

Bị đơn anh Lê D: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn đã nhiều lần triệu tập hợp lệ anh Lê D đến Tòa để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tham gia phiên tòa xét xử nhưng anh D vẫn cố tình vắng mặt không có lý do, do đó Tòa không lấy được lời khai của anh Lê Duy.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật về tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:

Thẩm phán đã thực hiện đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm xét xử sơ thẩm. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Hồng N được ly hôn với anh Lê D và giao con chung là cháu Lê Lan A cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, chị N không yêu cầu nên không xem xét; Về tài sản chung, chị N không yêu cầu nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Nguyễn Thị Hồng N, là nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 30-11-2023. Anh Lê D, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu ly hôn của chị N, căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 27 ngày 10/3/2015 do UBND phường N, thành phố Q tỉnh Bình Định cấp, căn cứ lời trình bày của đương sự và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Hồng N và anh Lê D là hôn nhân hợp pháp. Chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh D vì mâu thuẫn giữa chị và anh D đã trầm trọng, không thể hàn gắn được, vợ chồng chị đã sống ly thân từ năm 2020, tình cảm không còn, không ai còn sự quan tâm, chăm sóc đến nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ anh D đến Tòa để khai báo, hòa giải tạo điều kiện cho anh D hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh D cố tình vắng mặt. Điều này thể hiện anh Duy thực sự không muốn hàn gắn mối quan hệ vợ chồng, không quan tâm đến việc chị N yêu cầu ly hôn. Hội đồng xét xử nhận thấy hôn nhân giữa chị N và anh D không còn thương yêu, quý trọng, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống vợ chồng, do đó hôn nhân giữa chị N và anh D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của chị N là có căn cứ, phù hợp theo qui định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nuôi con chung: Chị N và anh D có 01 con chung tên là Lê Lan A, sinh ngày 13-7-2015, hiện sức khỏe cháu A vẫn bình thường. Xét yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn của chị N, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Lê D không có văn bản gửi cho Tòa án về việc nuôi dưỡng con chung. Cháu Anh có nguyện vọng được sống cùng với chị N sau khi chị N và anh D ly hôn, mặt khác cháu A hiện đang sống cùng với chị N đã ổn định tâm lý, tình cảm, do đó yêu cầu nuôi con chung của chị N là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình và cũng phù hợp với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí sơ thẩm: Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 thì chị Nguyễn Thị Hồng N phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

[4] Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị chấp nhận yêu cầu được ly hôn và được trực tiếp nuôi con chung của chị N là phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Hồng N được ly hôn với anh Lê Duy.
  2. Về nuôi con chung:
    1. Giao con chung tên là Lê Lan A, sinh ngày 13-7-2015 cho chị Nguyễn Thị Hồng N trực tiếp nuôi dưỡng.
    2. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Vì lợi ích của con khi cần thiết hai bên đều có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Hai bên có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung, không bên nào được ngăn cản.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: Chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
  2. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Hồng N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000675 ngày 05/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn. Chị N đã nộp đủ án phí.
  3. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Hồng N và anh Lê D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. Quy Nhơn;
  • - UBND P. Ngô Mây, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định;
  • (ĐKKH số 27/10.3.2015)
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thị Kim Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn

  • Số bản án: 34/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger