|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 10 - 7 - 2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Tư
2. Bà Hoàng Thị Hồng
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Cẩm Vân - Kiểm sát viên
Trong ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 158/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/6/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hà Yến N, sinh năm 1992 (vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt)
Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
Nơi cư trú: Số nhà I, tổ dân phố T, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
- Bị đơn: Anh Đỗ Văn C, sinh năm 1990 (vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt)
Hộ khẩu thường trú: Phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
Nơi cư trú: Số nhà C, ngõ B, tổ dân phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ghi ngày 24 tháng 05 năm 2024, bản tự khai ghi ngày 08 tháng 6 năm 2024, nguyên đơn là chị Hà Yến N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đỗ Văn C kết hôn ngày 09/3/2015, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu, vợ chồng lấy nhau tự nguyện, không bị ai ép buộc, khi cưới được gia đình tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng thuê nhà chung sống đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống về việc làm ăn kinh tế, cách nuôi dạy con cái dẫn tới vợ chồng xảy ra cãi vã hàng ngày, rồi đánh chửi lẫn nhau. Vợ chồng không có sự tôn trọng nhau, mỗi lần cãi nhau là hai bên chửi nhau thậm tệ. Mâu thuẫn cứ như vậy đến đầu năm 2021 thì trầm trọng đến mức không thể chung sống, không thể nói chuyện và hoà giải được với nhau nên chị đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ ở tổ dân phố T, phường T sinh sống. Chị và anh C cũng sống ly thân nhau từ đó đến nay không còn qua lại gặp nhau thêm lần nào nữa, anh chị đã chấm dứt mọi quan hệ với nhau. Đến nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đỗ Văn C.
- Về con chung: Chị và anh C có 01 con chung là Đỗ Thành Đ, sinh ngày 13/8/2015. Từ khi vợ chồng sống ly thân, cháu Đ do chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Chị không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Chị hiện làm công nhân Công ty M, địa chỉ: Tổ dân phố T, phường X, thành phố B, thu nhập ổn định từ 07 đến 08 triệu đồng một tháng. Chị đang ở cùng bố mẹ đẻ, có chỗ ở ổn định, bố mẹ chị hỗ trợ chăm sóc, đưa đón con đi học hàng ngày. Chị khẳng định đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng tốt cho con. Anh C không có công việc ổn định, lại đang đi thuê trọ và nhiều năm nay không có trách nhiệm gì với con.
- Về tài sản chung và công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết
* Tại bản tự khai ngày 06 tháng 6 năm 2024, bị đơn là anh Đỗ Văn C trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Hà Yến N kết hôn năm 2015 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B. Việc kết hôn là tự nguyện, không bị ai ép buộc, được tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống về mọi mặt, vợ chồng không thể nói chuyện được với nhau, mỗi lần nói chuyện là cãi nhau, hai bên đều nhận thấy mâu thuẫn không thể hòa giải được nữa. Từ đầu năm 2021, mâu thuẫn vợ chồng anh trở nên trầm trọng, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai, việc ai người đấy làm, do vậy anh chị sống ly thân nhau từ tháng 02 năm 2021 đến nay, không còn bất cứ mối quan hệ gì. Nay anh thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung khổng thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, anh nhất trí ly hôn với chị N. Đề nghị Tòa án giải quyết ngay cho vợ chồng anh được ly hôn.
- Về con chung: Anh và chị N có 01 con chung là Đỗ Thành Đ, sinh ngày 13/8/2015. Cháu Đ hiện đang ở với chị N, do chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn anh nhất trí để chị N được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ. Về cấp dưỡng nuôi con chung, anh không yêu cầu Tòa giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa giải quyết.
* Ngày 18 tháng 6 năm 2024 Tòa án tiến hành làm việc với ông Hà Văn L (bố đẻ chị Hà Yến N), ông L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị N kết hôn với anh C đầu năm 2015, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B. Trước khi kết hôn được tự do tìm hiểu, vợ chồng lấy nhau tự nguyện, không bị ai ép buộc, gia đình ông có tổ chức lễ cưới hỏi cho vợ chồng chị N theo phong tục tập quán địa phương. Sau khi kết hôn vợ chồng chị N thuê nhà sinh sống. Cuộc sống vợ chồng chị N thời gian đầu bình thường. Đến tháng 7/2020 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, xích mích, cãi nhau. Nguyên nhân theo ông là do thời điểm đó dịch bệnh C1, công việc của vợ chồng chị N, anh C bấp bênh dẫn đến không có thu nhập để đảm bảo cuộc sống. Đầu năm 2021 thì chị N đưa cháu Đ về nhà ông sinh sống đến nay. Kể từ khi mẹ con chị N về ở với gia đình ông, anh C không quan tâm, hỏi han gì đến mẹ con chị N, không có trách nhiệm gì với con, không đến thăm gặp cháu Đ lần nào. Vợ chồng chị N, anh C cũng đã sống ly thân nhau từ đó và chấm dứt mọi mối quan hệ. Nay chị N yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn anh C, ông đề nghị Toà án giải quyết cho chị N ly hôn anh C vì mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hoà giải đoàn tụ.
- Về con chung: Chị N và anh C có 01 con chung là Đỗ Thành Đ, sinh ngày 13/8/2015. Từ khi vợ chồng chị N sống ly thân cháu Đ ở cùng vợ chồng ông và chị N, do chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, vợ chồng ông có hỗ trợ chị N chăm sóc cháu Đ. Còn anh C không thăm gặp và có bất kỳ trách nhiệm gì với cháu Đ. Khi Toà án giải quyết cho vợ chồng chị N ly hôn, ông đề nghị Toà án giải quyết cho chị N nuôi dưỡng cháu Đ. Chị N có công việc, thu nhập ổn định và có nhà ở cùng vợ chồng ông. Ông khẳng định chị N có đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng tốt cho cháu Đ. Ông không có yêu cầu, đề nghị gì khác.
* Ngày 18 tháng 6 năm 2024, Tòa án tiến hành ghi ý kiến của cháu Đỗ Thành Đ, cháu Đ trình bày: Cháu là con bố Đỗ Văn C, con mẹ Hà Yến N1. Cháu mới học xong lớp 3A1, trường Tiểu học N2, phường T, thành phố B. Cháu đang ở với mẹ và ông bà ngoại cháu. Bố mẹ cháu không ở cùng với nhau đã lâu. Cháu không gặp bố cháu bao giờ. Sau này bố mẹ cháu không ở với nhau nữa thì cháu mong muốn tiếp tục được ở với mẹ và ông bà ngoại cháu.
* Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và mở phiên hòa giải nhưng nguyên đơn, bị đơn vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho các đương sự, không ai có ý kiến gì.
* Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hà Yến N được ly hôn anh Đỗ Văn C
- Về con chung: Giao cho chị H Yến Ngọc trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Đỗ Thành Đ, sinh ngày 13/8/2015. Anh Đỗ Văn C có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở anh Đỗ Văn C thực hiện quyền, nghĩa vụ này.
- Về án phí: Chị Hà Yến N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị N đã nộp.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
- Kiến nghị, khắc phục: Không có
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Hà Yến N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, con chung với anh Đỗ Văn C. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, cụ thể là tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn cư trú tại thành phố B, tỉnh Bắc Giang nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
[1.3] Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn tại phiên tòa.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn:
- Chị Hà Yến N và anh Đỗ Văn C kết hôn ngày 09/3/2015, kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B và được cấp giấy chứng nhận kết hôn, là hôn nhân hợp pháp đúng với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Quá trình chung sống, Hội đồng xét xử thấy chị N và anh C đã phát sinh nhiều mâu thuẫn và mâu thuẫn đã trở lên trầm trọng nhiều năm nay, không thể hòa giải được. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, việc cãi nhau xảy ra hàng ngày không hòa giải được, không còn tình cảm vợ chồng. Chị N, anh C đã sống ly thân nhau từ tháng 02 năm 2021 đến nay và không còn mối quan hệ về tình cảm, kinh tế. Chị N yêu cầu giải quyết ly hôn, anh C cũng nhất trí ly hôn theo yêu cầu của chị N. Do vậy, có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng chị N, anh C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để xử cho chị N được ly hôn anh C là phù hợp với quy định pháp luật.
[2.2] Về yêu cầu giải quyết con chung: Chị N yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đỗ Thành Đ, sinh ngày 13/8/2015 và không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con. Anh C nhất trí với yêu cầu của chị N, đề nghị Toà án giao cháu Đ cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, cháu Đ trình bày cháu có nguyện vọng được ở với chị N khi bố mẹ cháu ly hôn. Hội đồng xét xử thấy, kể từ khi anh C, chị N sống ly thân nhau (từ tháng 02/2021 đến nay), cháu Đ do chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị N có công việc, có thu nhập và có chỗ ở ổn định. Anh C không có công việc ổn định, đang đi thuê trọ ở và nhiều năm nay không có trách nhiệm gì với con. Cháu Đ trình bày có nguyện vọng được ở với chị N. Do vậy, để đảm bảo quyền, nghĩa vụ của cha mẹ trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; đảm bảo nguyện vọng của con chung và quyền lợi của con được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt nhất sau khi bố mẹ ly hôn, cần giao cháu Đ cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Sau khi ly hôn, anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở anh C thực hiện quyền, nghĩa vụ này.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N và anh C không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[2.4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị N và anh C không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[2.5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Hà Yến N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị N đã nộp.
[2.6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
[2.7] Về đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang: Xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đối với việc giải quyết vụ án là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Yến N được ly hôn anh Đỗ Văn C.
- Về con chung: Giao cho chị H Yến Ngọc trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Đỗ Thành Đ, sinh ngày 13/8/2015 đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật. Anh Đỗ Văn C có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung (cháu Đỗ Thành Đ), không ai được cản trở anh C thực hiện quyền, nghĩa vụ này.
- Về án phí: Chị Hà Yến N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị N đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001811 ngày 03 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
- Về quyền kháng cáo: Chị Hà Yến N và anh Đỗ Văn C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.
- Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lan |
Bản án số 34/2024/HNGĐ-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 34/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
