|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 34/2024/DS-ST Ngày: 10/5/2024 “V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Lưu Triều
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đỗ Văn Hoà
- Bà Lê Thị Kiều Thu
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Minh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hường– Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024 đến ngày 10 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 86/2020/TLST-DS ngày 13/5/2020 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2024/QÐST-DS ngày 14 tháng 4 năm 2024 giữa:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T – sinh năm: 1970
Nòa chæ: khu phố E, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim L – sinh năm: 1968
Nòa chæ: khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận
Bị đơn: Ông Lê H – sinh năm: 1971
Địa chỉ: khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Nguyễn Thanh M – sinh năm: 1999
Địa chỉ: Lô A khu dân cư H, đường T, thành phố P tỉnh Bình Thuận.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Trần Hoàng P - Luật sư – Công ty TNHH một thành viên H2, đoàn luật sư thành phồ H3.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Văn N – sinh năm: 1964
- Bà Dương Thị Hồng Q - sinh năm: 1971
Địa chỉ: thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận
Đại diện theo ủy quyền của ông N: Bà Nguyễn Thị Kim L – sinh năm: 1968.
Nòa chæ: khu phố 01, phường Phú Tài, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận
Địa chỉ: khu phố A, phường M, thành phố P, tỉnh Bình Thuận
Đại diện theo ủy quyền của bà Q: Bà Nguyễn Thanh M – sinh năm : 1999
Địa chỉ: Lô A khu dân cư H, đường T, thành phố P tỉnh Bình Thuận.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 08/5/2020 của nguyên đơn và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L đều trình bày:
Do có nhu cầu sử dụng đất nên ngày 20/6/2009 ông Nguyễn Văn T có nhận chuyển nhượng của ông Lê Văn N 01 thửa đất diện tích 740,1m², tại khu phố D, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, với giá 50.000.000 đồng. Khi chuyển nhượng các bên có làm giấy sang nhượng viết tay với sự chứng kiến của ông Đinh Ngọc R. Sau khi nhận chuyển nhượng thì ông T là người trực tiếp canh tác, đăng ký kê khai và nộp thuế sử dụng đất, đến năm 2013 ông T làm đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đã liên hệ với các cơ quan chức năng để đo đạc và được UBND phường H xác nhận đất này ông T nhận chuyển nhượng từ ông Lê Văn N hợp pháp và đề nghị các cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tuy nhiên trong quá trình làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông Lê H, bà Dương Thị Hồng Q tranh chấp với ông T vì cho rằng đất này là của ông H, bà Q.
Căn cứ Mảnh trích lục bản đồ địa chính số 61-2017, hệ tọa độ VN B, khu vực dân cư khu phố D, tờ số 64 (212473-4-(3)) do Chi nhánh văn phòng Đ kiểm tra đo đạt và M1 chỉnh lý thửa đất (212473-4-(3)) do Công ty TNHH A đo vẽ thì phần đất tranh chấp thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 64, diện tích 740,1m², tọa lạc khu phố D, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Nên ông T khởi kiện, yêu cầu Tòa án xác định thửa đất số 16, tờ bản đồ số 64, diện tích 740,1m², tại khu phố D, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, thuộc quyền sử dụng của ông T, để ông có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai kê khai, điều chỉnh và làm các thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và thống nhất với đơn giá Nhà nước về giá trị quyền sử dụng đất theo Biên bản định giá tài sản để làm căn cứ xét xử nên không yêu cầu định giá lại tài sản.
Tại bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa đại diện của bị đơn bà Nguyễn Thanh M đều trình bày:
Về nguồn gốc đất tranh chấp là trước năm 1975, bà Nguyễn Thị L1 và ông Trương Văn H1 là cha mẹ của bà Dương Thị Hồng Q đã khai hoang thửa đất có diện tích 740,1 m² tại khu đất Ấp (Bà L2 cũ) nay là khu phố D, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận để sử dụng và sinh sống, nhưng không có tờ khai hoang phần đất này, đến năm 1975, bà Nguyễn Thị L1 và ông Trương Văn H1 qua đời, nên đã để lại mảnh đất này cho ông Nguyễn Mậu D là cậu bà Q canh tác. Đến khoảng năm 1995 ông Nguyễn Mậu D (chết năm 2009) giao lại toàn bộ diện tích đất này cho ông H, bà Q sử dụng canh tác và thờ cúng các ngôi mộ của gia tộc, việc ông D giao đất lại cho ông H, bà Q cũng không có giấy tờ chứng minh.
Sau khi được giao đất thì ông H, bà Q đã quản lý sử dụng nhưng không kê khai việc sử dụng với cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai, đến năm 2000 do hoàn cảnh kinh tế quá khó khăn nên ông H, bà Q đi làm ăn xa, đầu năm 2009 ông H, bà Q đã về lại địa phương để sinh sống và tiến hành di dời 03 ngôi mộ trên đất về an táng tại nghĩa trang thành phố P thì biết được là ông Lê Văn N đã xây dựng ngôi nhà tạm trên đất của ông H, bà Q và chuyển nhượng thửa đất này cho ông Nguyễn Văn T.
Nên việc ông T khởi kiện, yêu cầu Tòa án xác định thửa đất số 16, tờ bản đồ số 64, diện tích 740,1m², tọa lạc khu phố D, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, thuộc quyền sử dụng của ông T là không đúng nên ông H không đồng ý và làm đơn phản tố vào ngày 28/7/2023, qua đó yêu cầu Tòa án xác định thửa đất số 16, tờ bản đồ số 64, diện tích 740,1m², tại khu phố D, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, thuộc quyền sử dụng của ông H, bà Q đồng thời thống nhất với đơn giá Nhà nước về giá trị quyền sử dụng đất theo Biên bản định giá tài sản để làm căn cứ xét xử và không yêu cầu định giá lại tài sản.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Thống nhất với ý kiến của bị đơn vì những tài liệu, chứng cứ để chứng minh nội dung yêu cầu của nguyên đơn là không đúng quy định pháp luật, nên đề nghị Hội đồng xét xử bát yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận cho bị đơn là ông H, bà Q được quyền sử dụng phần đất tại thửa số 16, tờ bản đồ số 64, diện tích 740,1m², tại khu phố D, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận vì đất này có nguồn gốc từ gia đình ông H, bà Q khai hoang.
Tại văn bản trình bày ý kiến và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm đại diện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim L đều trình bày:
Năm 1996 ông Lê Văn N khai hoang 01 phần đất có diện tích 740,1m², tại khu phố D, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, trên đất có xây dựng 01 căn nhà tạm để trồng dừa, đào và 01 số cây ăn trái, trong quá trình canh tác đã kê khai việc sử dụng đất với chính quyền địa phương nên ông N được UBND phường H quy chủ sử dụng thửa đất số 80, tờ bản tồ số 14, loại đất: LNC, theo Bản đồ địa chính năm 2005, sau đó được đo đạc theo đề án 920 là thửa đất số 16, tờ bản đồ 64, diện tích 740,1m², thuộc khu phố D, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận quy chủ cho ông Lê Văn N.
Đến ngày 20/6/2009 ông Lê Văn N đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn T toàn bộ quyền sử dụng 740,1m² đất nói trên với giá 50.000.000 đồng. Khi chuyển nhượng các bên có làm giấy sang nhượng đất viết giấy tay, có sự chứng kiến của ông Đinh Ngọc R, nên việc ông Lê H cho rằng thửa đất số 16, tờ bản đồ 64, diện tích 740,1m², thuộc khu phố D, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận là do bà Nguyễn Thị L1, ông Trương Văn H1 là cha mẹ của bà Dương Thị Hồng Q để lại cho ông H sử dụng là không đúng sự thật.
Do đó ông T khởi kiện, yêu cầu Tòa án xác định thửa đất số 16, tờ bản đồ số 64, diện tích 740,1m², tại khu phố D, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, thuộc quyền sử dụng của ông T là đúng pháp luật đề nghị chấp nhận Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tại phiên tòa:
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
2. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, đồng thời chấp hành tốt nội quy phiên tòa.
3. Ý kiến về việc giải quyết nội dung vụ án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông Nguyễn Văn T được quyền sử dụng phần đất có diện tích 740,1m², thửa đất số 16, tờ bản đồ số 64, tại khu phố D, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, kèm theo Mảnh chỉnh lý thửa đất số 16, tờ bản đồ số 64 (212 473-4-(3)) của Công ty TNHH A. Ông Nguyễn Văn T có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai để kê khai, điều chỉnh và thực hiện các thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về thủ tục tố tụng:
Ông Nguyễn Văn T khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng 740,1m² đất tại khu phố D, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Việc tranh chấp đã được Ủy ban nhân dân phường H hòa giải theo quy định tại Điều 202 Luật Đất đai năm 2013, nhưng hòa giải không thành. Do đó, vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm c khoản 01 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về ủy quyền tham gia tố tụng:
Căn cứ vào Điều 85 và Điều 86 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét Hợp đồng ủy quyền số công chứng 002291, quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD ngày 29/6/2022 của ông Lê H với bà Nguyễn Thanh M tại Văn phòng C1; Hợp đồng ủy quyền số công chứng 002291, quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 06/01/2022 của ông Lê Văn N với bà Nguyễn Thị Kim L tại Văn phòng C2; Hợp đồng ủy quyền số công chứng 001017, quyển số 02/2024TP/CC-SCC/HĐGD ngày 02/4/2024 của bà Dương Thị Hồng Q với bà Nguyễn Thanh M tại Văn phòng C1 và Hợp đồng ủy quyền số công chứng 00192, quyển số 01/2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 06/01/2022 của bà Nguyễn Thị Kim L với ông Nguyễn Văn T tại Văn phòng Công chứng Trương Văn C là hợp pháp, nên bà Nguyễn Thị Kim L và bà Nguyễn Thanh M đủ tư cách đại diện tham gia tố tụng tại Tòa án và được thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng theo nội dung văn bản ủy quyền.
[3] Về nội dung:
[3.1] Kết quả theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản; Mảnh trích lục bản đồ địa chính số 61-2017, hệ tọa độ VN B, khu vực dân cư khu phố D, tờ số 64 (212473-4-(3)) do Chi nhánh Văn phòng Đ kiểm tra đo đạt ngày 16/5/2017 và Mảnh chỉnh lý (212 473-4-(3)) do Công ty TNHH A đo vẽ thì phần đất tranh chấp thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 64, diện tích 740,1m², điạ điểm thửa đất: khu phố D, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Giá trị quyền sử dụng đất: Đất ở đô thị (vị trí C đường H) 10.548.000 đồng/m² x 0,3 x 150m² = 474.660.000 đồng và Đất trồng cây hàng năm 90.000 đồng/m2 x 590m² = 53.100.000 đồng. Tổng giá trị quyền sử dụng đất tranh chấp 474.660.000 đồng + 53.100.000 đồng = 572.760.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều đồng ý và thống nhất với kết quả của Hội đồng định giá.
[3.2] Về yêu cầu của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T tranh chấp quyền sử dụng 740,1m² đất, tại khu phố D, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận với ông Lê H và bà Dương Thị Hồng Q. Căn cứ Biên bản định giá tài sản và Mảnh chỉnh lý (212 473-4-(3)) do Công ty TNHH A đo vẽ thì phần đất tranh chấp thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 64, diện tích 740,1m², tại khu phố D, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Để chứng minh thửa đất tranh chấp này thuộc quyền sử dụng của ông T nên ông T đã cung cấp tài liệu, chứng cứ gồm: Đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận, chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 02/8/2013; Bản cam kết, giải trình về nguồn gốc đất, tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất xin cấp giấy CNQSDĐ ngày 27/9/2013; Đơn đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 08/5/2017; Tờ khai lệ phí trước bạ nhà, đất ngày 08/6/2017; Giấy sang nhượng đất ngày 20/6/2009; Tờ khai đất phi nông nghiệp đang sử dụng ngày 26/11/2004; Mảnh trích lục bản đồ địa chính số 61-2017, hệ tọa độ VN B, khu vực dân cư khu phố D, tờ số 64 (212473-4-(3)) do Chi nhánh Văn phòng Đ kiểm tra đo đạt ngày 16/5/2017; Biên lai thu tiền thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.
Để xác định nguồn gốc đất ai là người đăng ký và thuộc quyền sử dụng của ông T hay của ông H, bà Q, Toà án đã có Công văn số 46/XM-TA/P8 ngày 12/6/2020 gửi UBND phường H và có kết quả về việc báo cáo cung cấp thông tin hồ sơ tranh chấp của hộ dân xác định như sau: “Theo Bản đo đạc H năm 2005, thửa đất số 80, tờ bản đồ 14, loại đất: LNC; diện tích 521,4m², quy chủ tên Lê Văn N. Theo Mảnh trích lục bản đồ địa chính số 61-2017, thuộc thửa đất số 16, tờ bản đồ số 64, chủ sử dụng Lê Văn N của Chi nhánh Văn phòng Đ kiểm tra đo đạt ngày 16/5/2017"
Tại Công văn số 6927/UBND-NC ngày 16/12/2021 của UBND thành phố P về việc phúc đáp Công văn số 218/CV-TA ngày 13/5/2021 của Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết xác định:
“1. Theo Bản đồ điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của thành phố P: Thửa đất số 16, tờ bản đồ số 64, diện tích 740,1m², tọa lạc khu phố D, phường H, hiện nay nằm trong quy hoạch đất Thương mại – Dịch vụ. Thửa đất chưa có quy hoạch giải tỏa nên chưa có Thông báo, Quyết định thu hồi đất.
2. Căn cứ Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ: Người đang sử dụng đất sẽ được xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, khi thửa đất không còn tranh chấp, khiếu nại hoặc việc tranh chấp, khiếu nại đã được giải quyết dứt điểm”.
Như vậy nguồn gốc đất tranh chấp là vào năm 1996 ông Lê Văn N khai hoang 01 thửa đất có diện tích 740,1m², tọa lạc tại khu phố D, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận trên đất có 01 căn nhà tạm để trồng dừa, đào và 01 số cây ăn trái, trong quá trình sử dụng đất đã kê khai với chính quyền địa phương nên ông N được UBND phường H quy chủ sử dụng thửa đất số 80, tờ bản đồ số 14, loại đất: LNC, theo Bản đồ địa chính năm 2005, sau đó được đo đạc theo đề án 920 là thửa đất số 16, tờ bản đồ 64, diện tích 740,1m², thuộc khu phố D, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận quy chủ cho ông Lê Văn N, cũng như Mảnh trích lục bản đồ địa chính số 61-2017, hệ tọa độ VN B, khu vực dân cư khu phố D, tờ số 64 (212473-4-(3)) do Chi nhánh Văn phòng Đ kiểm tra đo đạt ngày 16/5/2017 cũng quy chủ cho ông Lê Văn N.
Đến ngày 20/6/2009 ông Lê Văn N sang nhượng cho ông Nguyễn Văn T toàn bộ quyền sử dụng 740,1m² đất nói trên. Khi chuyển nhượng các bên có làm giấy sang nhượng đất viết giấy tay, có sự chứng kiến của ông Đinh Ngọc R. Nên ông T đã làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tại Đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận, chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ngày 02/8/2013 do ông T đăng ký kê khai thửa đất số 16, tờ bản đồ số 64, diện tích 740,1m², địa chỉ tại khu phố D, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận đã được UBND phường H xác nhận: “Nguồn gốc sử dụng đất: Nguồn gốc đất do ông Lê Văn N tác động cất nhà vào năm 2001 với diện tích khoảng 100m², phần diện tích còn lại ông N không có tác động trồng cây. Đến năm 2009 ông N bán lại cho ông T.
Thời điểm bắt đầu sử dụng vào mục đích hiện nay: Năm 2001 sử dụng vào mục đích đất ở với diện tích 100m².
Tình trạng tranh chấp về đất đai và tài sản gắn liền với đất: Không
Sự phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng: vị trí đất thuộc quy hoạch đất công trình dịch vụ du lịch theo bản đồ quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500".
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và Công văn do Ủy ban nhân dân các cấp trả lời cho Toà án, đủ cơ sở xác định 740,1m², tại thửa đất số 16, tờ bản đồ số 64, thuộc khu phố D, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Biên bản định giá tài sản, Biên bản xem xét thẩm định tại chổ, Mảnh trích lục bản đồ địa chính số 61-2017, hệ tọa độ VN B, khu vực dân cư khu phố D, tờ số 64 (212473-4-(3)) do Chi nhánh Văn phòng Đ kiểm tra đo đạt, Mảnh chỉnh lý thửa đất số 16, tờ bản đồ số 64 (212 473-4-(3)) do Công ty TNHH A đo đạt có kích thước từ cạnh 1-2 = 23,32m; cạnh 2-3 = 17,11m; cạnh 3-4 = 14,09m; cạnh 4-5 = 4,11m; cạnh 5-6 = 11,99m; cạnh 6-7 = 8,45m; cạnh 7-8 = 5,45m; cạnh 8-9 = 2.77m; cạnh 9-10 = 16,89m; cạnh 10-11 = 1,33m; cạnh 11-1 = 4,73m, thuộc quyền sử dụng của ông T và việc này cũng phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Văn N xác định thửa đất số 16, tờ bản đồ số 64, diện tích 740,1m², tọa lạc tại khu phố D, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, thuộc quyền sử dụng của ông T, neân Hội đồng xét xử chaáp nhaän yeâu caàu khôûi kieän cuûa ông T.
[3.2] Về yêu cầu của bị đơn: Ông H không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T vì cho rằng thửa đất số 16, tờ bản đồ số 64, diện tích 740,1m², tại khu phố D, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, thuộc quyền sử dụng của ông H, bà Q. Nội dung của chứng cứ do bị đơn giao nộp là Biên bản hoà giải; Biên bản làm việc; Thông báo nộp thuế, Đơn xin xác nhận về việc hoàn thành thuế đất; Đơn khiếu nại. Toàn bộ tài liệu chứng cứ do bị đơn cung cấp đều là bản sao không phải là bản gốc.
Khoản 1 Điều 6 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp”.
Khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp...”, khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó” và khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”.
Điều 93 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp”.
Khoản 1 Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận”.
Đánh giá tài liệu, chứng cứ do bị đơn cung cấp để chứng minh phần đất tranh chấp tại thửa đất số 16, tờ bản đồ số 64, diện tích 740,1m², tại khu phố D, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, thuộc quyền sử dụng của bị đơn thì không có tài liệu nào để chứng minh cho bị đơn được quyền sử dụng thửa đất này.
Khoản 9 Điều 3 Luật đất đai quy định về công nhận quyền sử dụng đất như sau: “Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người đang sử dụng đất ổn định mà không có nguồn gốc được Nhà nước giao đất, cho thuê đất thông qua việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu đối với thửa đất xác định”.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa ông H đều thừa nhận chưa được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất vì không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai, không kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất với cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai, cũng như không có giấy tờ gì chứng minh ông H được quyền sử dụng thửa đất số 16, tờ bản đồ số 64, diện tích 740,1m², tại khu phố D, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của ông H.
[4] Về yêu cầu phản tố: Sau khi tòa án tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cân, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 18/6/2020, thì ngày 28/7/2023 ông H làm đơn phản tố yêu cầu Tòa án xác định thửa đất số 16, tờ bản đồ số 64, diện tích 740,1m², tọa lạc tại khu phố D, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, thuộc quyền sử dụng của ông H, bà Q.
Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự quyền yêu cầu phản tố của bị đơn như sau: “1. Cùng với việc phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
3. Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải”.
Do ông H làm đơn phản tố sau thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời yêu cầu của ông H không được Hội đồng xét xử chấp nhận nên đơn phản tố của ông H không được xem xét giải quyết.
[4] Ý kiến của Kiểm sát viên về thủ tục tố tụng và nội dung giải quyết vụ án là phù hợp với quy định pháp luật.
[5] Về chi phí định giá tài sản, chi phí đo vẽ diện tích đất:
Việc xem xét định giá tài sản và đo vẽ là theo yêu cầu của ông T, ông T không có yêu cầu xem xét giải quyết số tiền tạm ứng chi phí Định giá tài sản và đo vẽ nên ông T phải chịu chi phí.
[6] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của ông T được Tòa án chấp nhận nên ông H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ:
- Khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 85, Điều 86, Điều 91, Điều 93, Điều 95, Điều 147, Điều 157, Điều 164, Điều 165, Điều 233, Điều 235, Điều 266, Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự;
- Điều 163, Điều 164, Điều 166 của Bộ Luật dân sự;
- Điều 101, Điều 202, Điều 203 của Luật đất đai;
- Các Điều 2, 6, 7, 7A, 7B, 9, 30 của Luật Thi hành án dân sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Tuyên xử:
2.1) Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T đối với ông Lê H về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
2.2) Ông Nguyễn Văn T được quyền sử dụng phần đất có diện tích 740,1m², thửa đất số 16, tờ bản đồ số 64, địa điểm thửa đất: khu phố D, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, có kích thước các cạnh như sau: Từ cạnh 1-2 = 23,32m; cạnh 2-3 = 17,11m; cạnh 3-4 = 14,09m; cạnh 4-5 = 4,11m; cạnh 5-6 = 11,99m; cạnh 6-7 = 8,45m; cạnh 7-8 = 5,45m; cạnh 8-9 = 2.77m; cạnh 9-10 = 16,89m; cạnh 10-11 = 1,33m; cạnh 11-1 = 4,73m (Kèm theo Mảnh chỉnh lý thửa đất số 16, tờ bản đồ số 64 (212 473-4-(3)) của Công ty TNHH A).
2.3) Ông Nguyễn Văn T có quyền và nghĩa vụ liên quan đến cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai để kê khai, điều chỉnh và thực hiện các thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Ông Lê H phải nộp 26.910.400 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên ông T không phải chịu án phí, hoàn trả cho ông Nguyễn Văn T 3.750.000 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007474 ngày 13/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (10/5/2024) ông Nguyễn Văn T, ông Lê H, bà Dương Thị Hồng Q và ông Lê Văn N có quyền kháng cáo.
5. Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án:
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN LƯU TRIỀU |
Bản án số 34/2024/DS-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 34/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T đối với ông Lê H về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất
